
TTK VASEP Trương Đình Hòe
Với tổng giá trị XK cả năm đạt 2,396 tỷ USD (so với mốc 2 tỷ USD năm 2010) tôm chiếm tỷ trọng lớn nhất (39,8%) trong các sản phẩm thủy sản XK chủ lực của Việt Nam. Mặc dù nguồn nguyên liệu tôm sú thiếu nghiêm trọng do dịch bệnh ở khu vực ĐBSCL, nhưng lại được bù đắp bằng nguồn tôm chân trắng và một phần đáng kể nguồn tôm NK từ các nước, nên XK tôm vẫn duy trì tăng trưởng gần 14% so với năm trước. So với 2010, XK tôm sú đạt trên 1,43 tỷ USD, (chiếm gần 60% tổng giá trị XK tôm), giảm 0,6%, trong khi XK tôm chân trắng đạt 704 triệu USD (chiếm 29,3%) tăng gần 70%, còn lại 12% là tôm các loại khác.
Những bất cập về con giống và dịch bệnh khiến cho sản lượng tôm sú giảm, giá nguyên liệu tăng (tôm sú cỡ 35- 40 con/kg tại Cà Mau, Sóc Trăng luôn đứng ở mức 200.000 đ/kg). Năm 2011, tôm chân trắng có sự biến động tích cực rõ rệt, do nhu cầu của thị trường thế giới tập trung vào loài tôm này vì cỡ nhỏ, giá rẻ, trong khi loài tôm này có khả năng kháng bệnh cao, nguồn cung ổn định hơn tôm sú. Nhiều DN chế biến XK đã chuyển hướng từ tôm sú sang tôm chân trắng hoặc kết hợp cả 2 loài này để đáp ứng nhu cầu đa dạng hóa thị trường. Động thái này khiến giá tôm chân trắng tăng mạnh trong năm 2011. Đến tháng 12, giá tôm chân trắng cỡ 100 con/kg tại Phú Yên lên tới 105.9000 đồng/kg, tăng 25.000 đồng (30%) tại Cà Mau, giá tôm cùng cỡ cũng lên tới mức 100.000 đồng/kg, tăng 20.000 đồng (25%) so với đầu năm.
Năm 2011, tôm Việt Nam đã thâm nhập sâu hơn vào các thị trường khác ngoài 3 thị trường Mỹ, Nhật Bản, EU. Năm 2010, giá trị XK tôm sang 3 thị trường này chiếm trên 71% tổng giá trị XK tôm cả nước, sang năm 2011, tỷ trọng này giảm xuống còn 66%. Trong khi đó, XK sang một số thị trường khác tăng mạnh, như Nga tăng 124%, ASEAN tăng 54,7%, Hàn Quốc tăng 23%,... Hầu hết các loại tôm XK đều có giá tăng. Giá trung bình tôm XK hàng tháng của Việt Nam năm nay đạt 9,2 – 9,9 USD/kg, cao hơn khoảng 12-18%, có thời điểm cao hơn 28% so với năm trước. Tôm sơ chế có mức tăng chậm hơn những mặt hàng đã chế biến GTGT.
Tỷ trọng tôm chân trắng trong tổng XK tôm đã lên tới 29%, so với 26% năm 2010. Tỷ trọng nhóm hàng XK tôm đã qua chế biến (mã HS 160520) đang có xu hướng tăng. Năm 2010, giá trị XK tôm sống/tươi/đông lạnh chiếm gần 76% tổng giá trị XK nhưng sang đến năm 2011 chỉ còn chiếm 70%. Trong khi đó, giá trị XK tôm chế biến tăng từ 23% năm 2010 lên 28% năm 2011.
Thị trường Năm 2011, tôm Việt Nam có mặt ở 91 thị trường, trong đó, Mỹ, Nhật, EU là 3 thị trường lớn nhất, chiếm 66% tổng giá trị XK tôm của Việt Nam, Nhật Bản chiếm tỷ trọng cao nhất với 25%. EU duy trì mức tăng trưởng cao và ổn định. Top 10 thị trường NK tôm Việt Nam lớn nhất (gồm Nhật Bản, Mỹ, Hồng Kông, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đức, Canađa, Ôxtrâylia, Đài Loan, Anh) chiếm tới 82% tỷ trọng giá trị XK tôm của Việt Nam.
Nhật BảnXK tôm Việt Nam vào Nhật năm 2011 đạt 607,2 triệu USD, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm 2010. Năm 2011 chứng kiến sự trồi sụt đáng kể trong XK tôm sang Nhật Bản. Thảm họa kép (động đất và sóng thần) tại Nhật Bản gần cuối tháng 3 khiến XK tôm sang thị trường này sụt giảm mạnh do nhu cầu thị trường xuống thấp. Sau 5 tháng giảm sâu, XK tôm sang Nhật Bản mới tăng trưởng trở lại vào tháng 8.
Góp phần vào mức sụt giảm này cũng phải nhắc tới việc Nhật Bản áp dụng biện pháp tăng cường kiểm tra 100% Enrofloxacin vào đầu tháng 6 trong khi ngành tôm vẫn đang “loay hoay” với hàng loạt lô tôm chứa dư lượng Trifluralin, một hoạt chất diệt cỏ bị phía Nhật thắt chặt kiểm tra tới 100% vào tháng 9 năm ngoái. Khối lượng NK tôm vào Nhật Bản 10 tháng đầu năm 2011 giảm gần 4%. Trong 5 nước cung cấp tôm hàng đầu cho Nhật Bản gồm Thái Lan, Việt Nam, Inđônêxia, Ấn Độ và Trung Quốc thì có tới 3 nước đứng đầu giảm khối lượng XK tôm sang thị trường này so với cùng kỳ năm 2010. Trong đó, NK từ Việt Nam giảm mạnh nhất 22,2%; Thái Lan giảm 3,7%; Inđônêxia giảm 4,1%. Ngược lại, NK từ Ấn Độ và Trung Quốc lại tăng khá với mức tăng tương ứng 4,7% và 23,3%.
MỹXK tôm Việt Nam sang Mỹ đạt 558,5 triệu USD, tăng 1% về giá trị so với 2010. Trong đó 6 tháng đầu năm, liên tục tăng trên hai con số, nhưng cuối năm lại giảm mạnh. Tiêu thụ tôm trên thị trường Mỹ vẫn chưa có dấu hiệu nóng lên trong khi lượng dự trữ tôm của thị trường này còn rất nhiều. Năm 2011, Việt Nam mất đi ưu thế của mình về XK tôm cỡ lớn sang Mỹ. Thống kê của Cơ quan thống kê Mỹ cho thấy, NK tôm cỡ lớn U/15 vào thị trường này 10 tháng đầu năm giảm 3,3%. Năm 2011, Thái Lan vẫn duy trì vị trí dẫn đầu về cung cấp tôm cho Mỹ mặc dù lượng XK giảm do ảnh hưởng của lũ lụt. Cơ quan Thống kê Mỹ cho thấy 10 tháng đầu năm, NK tôm Thái Lan vào Mỹ giảm gần 7%, từ 160.707 tấn cùng kỳ năm ngoái xuống còn 149.757 tấn. NK từ Ấn Độ, Inđônêxia, Malaixia, Mêhicô và Êcuađo lại tăng mạnh: Ấn Độ tăng 77%, Mêhicô 25,5%, Malaixia 18,8%, Inđônêxia 14,4%, Êcuađo 11%.
EUXK tôm sang EU năm 2011 đạt 412,8 triệu USD, tăng 20% so với năm 2010. EU là thị trường chính duy nhất trong ba thị trường NK tôm hàng đầu duy trì sức tăng trưởng dương trong suốt 11 tháng đầu năm. Tuy nhiên, sang tháng 12, XK tôm sang EU đã bị sụt giảm đáng kể (giảm 11%) do NK vào Bỉ giảm mạnh (35,5%). Đức, Anh, Bỉ, Pháp, Hà Lan là 5 thị trường NK tôm hàng đầu EU, chiếm 81% tổng giá trị NK tôm vào khu vực này. Chủ tọa hội nghị Tổng kết tình hình nuôi tôm nước lợ 2011, Cà Mau 8/2/2012 Các nước EU có xu hướng tăng cường NK tôm từ các nước thuộc khu vực, thị phần của các nước Bỉ, Tây Ban Nha, Hà Lan đều tăng trong khi đó, thị phần của các nước Êcuađo, Ấn Độ, Bănglađét, Thái Lan, Mađagatxca lại giảm nhanh.
Chủ tọa hội nghị Tổng kết tình hình nuôi tôm nước lợ 2011, Cà Mau 8/2/2012
Trung Quốc & Hồng KôngXK tôm sang Trung Quốc & Hồng Kông năm 2011 đạt trên 224 triệu USD, tăng 54% so với năm ngoái. Liên tiếp trong mấy năm trở lại đây, XK tôm Việt Nam sang Trung Quốc tăng rất mạnh, năm 2011, thị trường này luôn tăng trưởng 2-3 con số từ những tháng đầu năm.
Năm nay DN chế biến và XK tôm Việt Nam đã phải cạnh tranh thu mua tôm nguyên liệu với thương lái Trung Quốc ngay trên sân nhà. Thực trạng này phần nào phản ánh nhiều bất ổn trong nguồn cung tôm nguyên liệu trong nước của Trung Quốc. Đứng thứ 3 thế giới về XK, nhưng Trung Quốc cũng nằm trong 15 nước NK tôm hàng đầu thế giới. Sản phẩm tôm NK chủ yếu của Trung Quốc là tôm vỏ đông lạnh cỡ nhỏ (chiếm khoảng 48% giá trị NK), tôm vỏ đông lạnh cỡ lớn (chiếm 33%). Bên cạnh việc tăng cường tìm nguồn hàng từ các nước Châu Á, Trung Quốc đã gia tăng NK từ các nước thuộc khu vực khác như Êcuađo và Canađa. Năm 2011, Trung Quốc NK tôm từ 47 nước trên thế giới, trong đó 5 nước XK tôm hàng đầu là Canađa, Êcuađo, Thái Lan, Ấn Độ và Grinlen.
10 tháng đầu năm 2011, Trung Quốc XK 221.664 tấn tôm các loại, trị giá trên 1,58 tỷ USD, tăng 15% về khối lượng nhưng giảm tới 38% về giá trị FOB so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, tôm chế biến chiếm 43%, tôm HLSO và HOSO chiếm 57%.
Hàn QuốcLà nước NK tôm đông lạnh đứng thứ 9 thế giới về giá trị và là thị trường đơn lẻ đứng thứ 5 về giá trị NK tôm của Việt Nam trong năm vừa qua. Năm 2011, XK tôm Việt Nam sang thị trường này đạt 157,6 triệu USD, tăng 23% so với năm trước. XK tôm vào Hàn Quốc nói chung thuận lợi, khối lượng XK tăng dần và luôn cao hơn năm trước. Tôm đông lạnh nguyên liệu chiếm 77% giá trị XK tôm sang Hàn Quốc, còn lại là tôm chế biến.
Tôm Việt Nam có vị trí tương đối vững tại thị trường Hàn Quốc. Từ năm 2006 trở về trước Việt Nam luôn đứng sau Thái Lan và Trung Quốc về giá trị XK tôm sang Hàn Quốc, nhưng từ 2007 đến nay, Việt Nam đã vượt lên giành vị trí quán quân trong 25 quốc gia và vùng lãnh thổ XK tôm đông lạnh vào Hàn Quốc; chiếm thị phần chi phối với 37% về tôm nguyên liệu, tiếp đến là Thái Lan, Malaixia và Trung Quốc với thị phần khoảng 17% mỗi nước. Việt Nam chiếm 42% NK tôm chế biến của Hàn Quốc, tiếp đến là Trung Quốc và Thái Lan.
Vùng nuôi tôm của Quoc Viet Seafood - Ảnh: Nguyên Khải
Cơ hội và thách thức năm 2012Năm 2012 sẽ vẫn phải đối mặt với những khó khăn, thách thức về nguồn nguyên liệu, thị trường và kiểm soát dư lượng hóa chất kháng sinh; nếu không có các giải pháp hợp lý, XK tôm chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng.
Về nguồn nguyên liệuTôm chân trắng đang phát huy lợi thế tối đa trong sản xuất, chế biến và XK tôm Việt Nam. Tôm chân trắng sẽ tiếp tục phát huy thế mạnh và chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu XK tôm của Việt Nam. Dự báo nguồn nguyên tôm nguyên liệu trong nước sẽ ổn hơn trong năm tới nhờ đúc rút kinh nghiệm từ dịch bệnh tôm năm 2011, người nuôi tuân thủ các qui định hạn chế dịch bệnh.
Theo nguồn tin từ Thái Lan, dự báo trong đầu năm 2012, nguồn cung tôm chân trắng cỡ lớn từ Thái Lan sẽ thiếu hụt do ảnh hưởng của đợt lụt tồi tệ bắt đầu từ tháng 7 và kéo dài trong nhiều tháng sau đó.
Về thị trường Nhu cầu tiêu thụ tôm tại các thị trường lớn như Nhật Bản, Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc sẽ vẫn cao trong năm tới. Tuy nhiên, Mỹ và Nhật Bản đều đang có xu hướng gia tăng NK hàng giá trị gia tăng và giảm NK hàng nguyên liệu.
Chế biến tôm ở CAMIMEX - Ảnh: Kim Sơn
XK tôm sang Nhật Bản sẽ tiếp tục ngày càng tăng cường hơn nữa kiểm soát tôm NK từ Việt Nam, đặc biệt về kháng sinh Enrofloxacin tiếp sau hoạt chất Trifluralin. Số lượng các lô hàng bị nhiễm các chất cấm nằm trong hệ thống cảnh báo của Nhật chưa giảm. Tôm Việt Nam phải cạnh tranh về giá XK với các nước như Inđônêxia, Ấn Độ và Thái Lan. Giá tôm XK của Việt Nam cao hơn 15 – 20% so với giá của Ấn Độ và Inđônêxia.
Kinh tế tại nhiều nước châu Âu đang bất ổn và khó có thể hồi phục trong trung hạn. Vì vậy, nhu cầu tiêu thụ và NK tôm vào thị trường này năm tới dự báo sẽ không thật sự khả quan. XK tôm sang Trung Quốc và Hàn Quốc sẽ tiếp tục được đẩy mạnh trong năm tới. DN tôm có thể sẽ đẩy mạnh XK tôm cỡ lớn sang Mỹ để bù đắp cho lượng thiếu hụt từ nguồn cung tôm Thái Lan và tiếp tục đẩy mạnh XK tôm GTGT đế đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của thị trường.
Năm 2012, DN XK tôm vẫn gặp nhiều khó khăn về vốn và tốn nhiều chi phí trong quản lý, kiểm tra và kiểm soát chất lượng thủy sản XK. Để đạt được mục tiêu XK tôm 2,5 tỷ USD, đưa tổng XK thủy sản lên 6,5 tỷ USD năm 2012, DN XK thủy sản nói chung và DN tôm nói riêng rất mong đợi sự hỗ trợ của các cơ quan quản lý trong các cơ chế chính sách để tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh và XK, giảm chi phí cho DN và tăng tính cạnh tranh cho sản phẩm thủy sản XK của Việt Nam, nhất là sản phẩm tôm đang bị áp lực về chi phí nguyên liệu, bao bì và sự cạnh tranh về giá XK với các nước khác.