
ấn độ nổi lên là một nhà sản xuất lớn thức ăn dạng nổi và dạng chìm. việc sử dụng ngày càng nhiều thức ăn ở nước này có thể giúp phát triển ngành nttS
Chuyển giao công nghệ
Các bộ phận của ngành sản xuất thức ăn cho thủy sản (TĂTS) của Ấn Độ có trình độ hiện đại hóa, thương mại hóa và nghiên cứu khoa học khá khác nhau. Ngành sản xuất thức ăn cho tôm phát triển mạnh hơn và sản phẩm có tính cạnh tranh trên thị trường thế giới, nhờ đã áp dụng được những chuẩn mực và tiêu chuẩn quốc tế cũng như đã nhận được nhiều hỗ trợ trong giai đoạn khởi đầu vào cuối những năm 80 - đầu những năm 90.
Ngành thức ăn cho cá tụt hậu hơn có thể là do đặc điểm của hệ thống nuôi của Ấn Độ. Mặc dù hệ nuôi cá chép đa loài đã có từ lâu, hiện nay chỉ nuôi 2 loài cá chép, nhưng ngành này chủ yếu vẫn phụ thuộc vào các thành phần thức ăn giá rẻ như cám gạo. Năng suất của một hệ thống nuôi như vậy rất khó để đánh giá và quản lý.
Giá trị của thức ăn công nghiệp chưa được đánh giá đúng và người nuôi cũng như các công ty sản xuất thức ăn nghi ngờ tính hiệu quả chi phí của thức ăn thương phẩm. Tuy nhiên, sau khi giá trị thức ăn thương phẩm được đánh giá, ngành này đã phát triển một cách nhanh chóng và nuôi thủy sản ở Ấn Độ đang tiến nhanh trên con đường hiện đại hóa.
Ngành sản xuất TĂTS
Trước đây, Ấn Độ không phải là một quốc gia mạnh về ngành TĂTS trên thế giới. Nguyên nhân là ngành thủy sản Ấn Độ chủ yếu phụ thuộc vào phương pháp cho ăn truyền thống dựa trên các phụ phẩm nông nghiệp nghèo dinh dưỡng và sử dụng phân bón động vật để sản xuất thực vật phù du. Với hệ số thức ăn là 4, ước tính Ấn Độ cần sử dụng khoảng 12,6 triệu tấn thức ăn để sản xuất 3,15 triệu tấn cá nước ngọt.
Năm 2003, Hiệp hội Đậu nành Mỹ - bộ phận Tiếp thị quốc tế (ASA-IM) quyết định tìm kiếm một thị trường tiềm năng để phát triển ngành thức ăn NTTS, gắn sự phát triển với chuỗi quy trình NTTS tiến bộ để nuôi cá. Công việc ban đầu tập trung vào việc đánh giá lợi nhuận kinh tế của thức ăn thương phẩm. Ngoài ra, các thành phần tham gia và các doanh nhân cũng được tiếp xúc với các công nghệ sản xuất thức ăn sử dụng ở Châu Á.
Nhờ những nỗ lực này và sự tham gia nhiệt tình của các công ty và DN tư nhân trong ngành NTTS, Ấn Độ đã nổi lên trở thành một nhà sản xuất lớn về TĂTS ép đậu nành, dạng nổi cũng như dạng chìm. Ngành đã đầu tư máy ép nhập khẩu để sản xuất TĂTS dạng nổi.
Hiện nay, có 7 nhà máy sản xuất TĂTS đang hoạt động với công suất hàng tháng đạt 36.000 tấn, con số này có thể tăng lên 86.000 tấn vào cuối năm 2011, đầu năm 2012.
Sử dụng thức ăn
TĂTS được sản xuất bằng quá trình đùn ép sử dụng từ 3-6 triệu khuôn và có khoảng 28-32% protein và 3-6% hàm lượng chất béo. Tất cả thức ăn hiện được sử dụng cho hệ thống nuôi thương phẩm tại các trại nuôi thủy sản nhưng không được sử dụng phổ biến ở các cơ sở ương nuôi giống.
Bột đậu nành là nguồn dinh dưỡng chính chiếm 35-45% trong công thức TĂTS. Ngoài ra, còn có các thành phần khác gồm cám, tấm, cám lúa mì, bột mì, bột gluten ngô và khô dầu dừa. Hỗn hợp phốtpho, vitamin và các khoáng chất cũng được sử dụng rộng rãi.
Hầu hết TĂTS được bán ở bang Andhra Pradesh, khu vực nuôi thủy nuôi lớn nhất của Ấn Độ. Tuy nhiên, các khu vực khác ở Ấn Độ cũng sử dụng nhiều công nghệ hiện đại. Thức ăn chủ yếu được sử dụng trong ngành nuôi cá tra, tiếp theo là nuôi cá chép.
ASA-IM ước công suất sản xuất thức ăn theo công nghệ đùn ép sẽ đạt từ 1,0-1,2 triệu tấn năm 2012. Với hệ số thức ăn đạt 1,2, Ấn Độ sẽ nuôi khoảng 1 triệu tấn thủy sản nước ngọt.
Nguồn TĂTS lớn có khả năng phát triển hai hệ thống NTTS dưới mức tiềm năng của Ấn Độ là sản xuất trên bờ và nuôi lồng biển. Ngoài ra, hệ thống NTTS dựa vào thức ăn có thể giúp đa dạng loài, tăng cường các cơ hội quảng bá và phát triển thủy sản chế biến cho việc sử dụng nội địa tại Ấn Độ.
Thức ăn mới chỉ là một phần trong chuỗi giá trị NTTS. Mặc dù hiện nay ngành TĂTS của Ấn Độ có lợi thế về công suất sản xuất và chất lượng, nhưng vẫn còn nhiều khó khăn cần giải quyết trong chuỗi giá trị NTTS, liên quan đến ngành thức ăn
Đa dạng hóa loài
Ấn Độ không có nhiều loài cá – chỉ có 2 loài được nuôi rộng rãi. Cá chép đã được nuôi trong nhiều năm, còn gần đây, cá tra ngày càng trở nên phổ biến. Nhiều loài đặc hữu có thể được nuôi sản xuất thương phẩm.Việc đưa cá rô phi vào nuôi sẽ phát triển ngành thủy sản ở Ấn Độ như trên toàn thế giới. Việc nuôi các loài mới có thể phát triển các loài thủy sản có chất lượng tốt hơn, nhất là với những nhiều loài có xương sống. Sự đa dạng hóa loài có thể thúc đẩy việc sử dụng nhiều thức ăn hơn và đầu tư và ngành thức ăn mạnh hơn.
Công nghệ sản xuất giống
Để đa dạng hóa loài, đầu tiên cần thiết phải sản xuất giống. Nhiều loài cá nước ngọt và nước mặn có tiềm năng nuôi tốt, tuy nhiên đến nay, các DN chưa thực sự nỗ lực để sản xuất giống thương phẩm. Công nghệ sản xuất giống mới sẽ là một yếu tố quan trọng của chuỗi giá trị ở NTTS Ấn Độ.
Sàng lọc ngành nuôi
Khi đã có nguồn cung giống thủy sản, hệ thống ương và nuôi thương phẩm cần phải thay đổi để chuyển từ phương pháp nuôi truyền thống sang các hệ thống hiện đại và hiệu quả hơn. Các nhà máy TĂTS hiện nay đang hoạt động chắc chắn sẽ phải sản xuất các loại thức ăn đặc chế. Khi các hệ thống nuôi được sàng lọc thì có thể sử dụng nhiều thức ăn hơn.

Ấn Độ đang chuyển từ các phương pháp cho ăn truyền thống dựa trên phụ phẩm nông nghiệp và phân bón động vật để sản xuất thực vật phù du sang sử dụng thức ăn thương phẩmĐa dạng hóa hệ thống
Nguồn TĂTS phù hợp ở Ấn Độ có thể đa dạng hóa hệ thống nuôi. Mãi đến gần đây, Ấn Độ vẫn chưa có TĂTS dạng nổi sản xuất bằng đùn ép và việc sử dụng thức ăn dạng viên cũng hạn chế. Những loại thức ăn này hiện đang sẵn có để phục vụ việc phát triển nuôi lồng thủy sản nước ngọt và nuôi biển. Khi các hệ thống nuôi mới đi vào hoạt động, chúng sẽ tự động cần nhiều thức ăn hơn.
Quảng bá thủy sản
Các vấn đề trong chuỗi giá trị là việc thu hoạch, vận chuyển hậu ấu trùng và tiếp thị thủy sản có tổ chức ở Ấn Độ. Nước này thường phân phối thủy sản thông qua các chợ thủy sản và quá trình vận chuyển dài, điều này không hiệu quả và làm khách hàng không muốn mua thủy sản do sợ bị hư hỏng.
Khách hàng ngày nay mua sắm chủ yếu dựa trên kinh nghiệm nhưng nỗ lực tiếp thị thủy sản ở Ấn Độ hiện nay không hiệu quả với những khách hàng như vậy. Như một sự so sánh, ngành thịt gà được bán ở các chợ nhưng các cửa hàng thịt gà đang hiện đại hóa và thịt gà chế biến đang phát triển rất nhanh. Ấn Độ là quốc gia sản xuất sữa lớn nhất thế giới và hệ thống tiếp thị và vận chuyển sữa rất tuyệt vời.Chế biến và gia tăng giá trị cho thủy sản có thể là giải pháp tốt nhất để tăng lượng tiêu thụ.
Chế biến giúp sản phẩm thủy sản đến tay khách hàng vẫn giữ được chất lượng tốt và chỉ vận chuyển những sản phẩm chính, những sản phẩm thừa được giữ lại và chuyển thành phụ phẩm có thể sử dụng trong ngành thức ăn. Đồng thời, chế biến cũng giúp bình ổn giá.
Ngoài ra, chế biến cũng giúp kiểm soát hiệu quả việc tiếp cận khách hàng, vì thế tạo nhiều không gian hơn để sản xuất thủy sản gia tăng, tạo điều kiện cho thị trường tăng cường vào ngành nuôi, sản xuất TĂTS và nuôi. Vì thế, chế biến, tiếp thị và gia tăng giá trị có tác động trực tiếp đến tính bền vững của ngành TĂTS.
P.E. Vijay Anand – Micheael C. Cremer
Hằng Vân dịch
Global Aquaculture Alliance
T7/8-2011