Phơi cá ở Quỳnh Lưu - Nghệ An - Ảnh: internet
Đa dạng nhưng sơ sàiSản phẩm thủy sản truyền thống (TSTT) bao gồm rất nhiều nhóm hàng như thủy sản khô, nước mắm, mắm tôm, mắm các loại, sứa và các sản phẩm khác (cá muối, tôm chua, cá hấp, chả mực, chả cá, ...). Sản xuất nước mắm là ngành lớn nhất với hơn 2.900 cơ sở chế biến, sản lượng bình quân 215 triệu lít/năm, trị giá khoảng 4.800 tỷ đồng. Chế biến thủy sản khô đứng thứ 2 với 1.850 cơ sở chế biến, sản lượng bình quân 52.500 tấn, giá trị trên 752,5 tỷ đồng mỗi năm. Các nhóm hàng còn lại sản lượng không cao, quy mô sản xuất phần lớn là hộ gia đình, sản phẩm làm ra chủ yếu được tiêu thụ tại địa phương. Cá biệt một số tỉnh có ngành du lịch phát triển, sản phẩm được du khách biết đến và mua làm quà ở nhiều địa phương khác như tôm chua Huế, mắm cá An Giang,…
Sản phẩm đa dạng nhưng hoạt động sản xuất lại theo phương thức thủ công, sơ sài, nhỏ lẻ. Ngay cả tại các cơ sở chế biến nước mắm và mắm các loại, trang thiết bị vẫn thô sơ và thao tác thủ công vẫn là chủ yếu. Chượp cá hoặc mắm được ủ trong chum, ang, bể xi măng, thùng gỗ. Chỉ những DN hay hộ gia đình có quy mô sản xuất lớn mới có máy đảo chượp, bơm lọc nước mắm thay vì dùng gáo. Và cũng chỉ các cơ sở này mới sử dụng thiết bị đóng chai công nghiệp, phần nào đáp ứng được tiêu chuẩn VSATTP. Tuy nhiên số DN như vậy chưa nhiều. Đa phần các hộ sản xuất chứa sản phẩm trong can nhựa 20 lít để vận chuyển đến nơi tiêu thụ hoặc đóng chai thủ công.
Ở các cơ sở chế biến hàng khô, hình thức chế biến còn sơ sài hơn. Cá, tôm, mực phơi trên bãi biển, thậm chí ở ngay ven đường giao thông. Vì những hạn chế đó, sản phẩm làm ra chất lượng không ổn định, không đảm bảo các tiêu chuẩn về VSATTP, cộng thêm bao bì đóng gói chưa bắt mắt nên giá trị kinh tế mang lại thấp hơn các nhóm hàng thủy sản khác.
Chắc ăn thị trường trong nướcTheo báo cáo của Cục Chế biến, Thương mại Nông Lâm Thủy sản và Nghề muối, Bộ NN&PTNT, mặc dù tổng giá trị hàng hóa của TSTT đạt hơn 7.000 tỷ đồng/năm, nhưng sản phẩm tiêu thụ tại thị trường nội địa chiếm tỷ lệ tới 94%. Thủy sản khô là nhóm hàng gần như duy nhất có XK với sản lượng khoảng 40 – 50.000 tấn/năm, giá trị ước đạt 160 – 180 triệu USD/năm. Có thể thấy ưu tiên phát triển thị trường nội địa từ lâu vẫn là mục tiêu của các cơ sở sản xuất TSTT.
Là địa phương có nghề sản xuất nước mắm truyền thống, đã nổi tiếng với sản phẩm nước mắm Phan Thiết được công nhận thuộc loại “lão làng”, từ năm 1998 Bình Thuận đã xây dựng khu chế biến nước mắm Phú Hài có qui mô lớn hạng nhất nhì Việt Nam. Tới nay, trên diện tích hơn 70.000 m2 đã có 94 cơ sở, DN sản xuất nước mắm đi vào sản xuất ổn định với tổng công suất đạt trên 25 triệu lít/ năm. Song sản lượng này vẫn nhằm vào đáp ứng nhu cầu thị trường nội địa. XK nước mắm vẫn đang dừng lại trong “định hướng” của tỉnh.
Tương tự, tỉnh Thừa Thiên-Huế có các đặc sản như tôm chua, mắm ruốc, mắm cá cơm,…. Nhờ có du lịch phát triển nên các sản phẩm ngày càng được người tiêu dùng trên cả nước biết tới, số lượng tiêu thụ hằng năm không phải là nhỏ: tôm chua khoảng 400-500 tấn, mắm ruốc trên 1.000 tấn... Nhưng lượng hàng bán cho khách nước ngoài hoặc Việt kiều mua về làm quà chiếm tỉ lệ rất nhỏ, sản phẩm chủ yếu tiêu dùng trong nước.
Nhiều ý kiến cho rằng, thị trường nội địa dễ tính, không đòi hỏi khắt khe như thị trường XK. Phát triển ở thị trường này an toàn, DN ít gặp rủi ro. Hơn nữa, đây là sản phẩm truyền thống của người Việt nên chưa hẳn đã phù hợp với khách hàng quốc tế. Và một điều không thể phủ nhận là phần lớn sản phẩm TSTT chưa đáp ứng được các qui định về VSATTP tại các thị trường nước ngoài. Vì vậy, cho dù cộng đồng người Việt ở nước ngoài khá đông, nhu cầu không ít nhưng chủng loại sản phẩm vẫn gặp nhiều khó khăn khi XK.
Thái Lan là nước rất nhanh nhạy khi đưa sản phẩm truyền thống ra thị trường quốc tế. Khi đồ ăn Thái trở thành phổ biến ở nhiều nước, nước mắm là gia vị đi kèm không thể thiếu, các DN Thái Lan đã nỗ lực nâng cấp sản phẩm nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn VSATTP quốc tế. Từ năm 2002, Thái Lan tung sản phẩm nước mắm cá ngừ ra chiếm lĩnh nhiều thị trường như Mỹ, Hồng Kông, Trung Quốc, Nhật Bản… và sản lượng hằng năm tăng trưởng đều đặn ở mức 10%.
Diện mạo năm 2020Cũng theo báo cáo đã nêu, những khó khăn cố hữu mà hoạt động chế biến TSTT giai đoạn 2001-2010 gặp phải là vốn, nguyên liệu, nguồn nhân lực và thị trường tiêu thụ.
Nhiều chuyên gia kinh tế đánh giá, thiếu vốn là khó khăn lớn nhất của các DN nhỏ và vừa. Lãi suất ngân hàng quá cao, biến động tỉ giá lớn nên các DN này gần như không thể tiếp cận các nguồn vốn vay. Phần lớn các hộ, cơ sở, DN hoạt động chế biến TSTT đều thuộc loại đó.

Mắm tôm chua là đặc sản đã thành thương hiệu của Huế - Ảnh: internet
Thiếu nguyên liệu đang ảnh đến hoạt động này ngày càng rõ nét. Đặc thù của chế biến TSTT là sử dụng chủ yếu nguồn nguyên liệu khai thác tự nhiên. Tình trạng lạm thác trong thời gian dài làm cho nguồn nguyên liệu này ngày càng giảm sút. Một số mặt hàng như cá cơm, cá khô, mực khô, ruốc khô… sản lượng ngày càng thấp so với giai đoạn trước 2001. Đồng thời giá nguyên liệu ngày càng cao nên nhiều DN chỉ hoạt động được 20% - 30% công suất, có nơi chỉ hoạt động cầm chừng, thậm chí phải tạm ngưng hoạt động. Không ổn định về vốn, thiếu nguyên liệu, mặt bằng…nên DN không dám mở rộng sản xuất, dẫn đến không giữ chân được lao động có tay nghề cao và tuyển dụng nhiều lao động phổ thông.
Mặc dù sản lượng tiêu thụ nội địa khá lớn, khoảng trên 200 triệu lít/năm, nhưng giữa các cơ sở sản xuất nước mắm vẫn cạnh tranh với nhau quyết liệt. Sử dụng nước mắm hằng ngày nhưng không phải người tiêu dùng nào cũng phân biệt được thế nào là “nước mắm” và thế nào là “nước chấm”. Lợi dụng điều này, các DN kinh doanh loại nước mắm pha chế công nghiệp - thực chất là nước chấm có hương vị mắm - liên tục tung ra những sản phẩm mới, chiếm lĩnh tới 60 -70% thị phần nước chấm lưu thông trên thị trường cả nước. Các sản phẩm loại này mang lại tỷ suất lợi nhuận rất cao, nên các DN kinh doanh chúng đủ điều kiện để tổ chức quảng cáo và tiếp thị rầm rộ, khiến người tiêu dùng lầm tưởng đây là nước mắm sản xuất theo cách truyền thống. Chiêu tiếp thị kiểu này khiến các cơ sở sản xuất nước mắm truyền thống phải hết sức lao đao, vất vả để đối phó, nhưng các cơ quan quản lý lại không có biện pháp ngăn chặn.
Nhìn nhận những khó khăn, bất cập trên, Quyết định Phê duyệt Quy hoạch phát triển chế biến thủy sản toàn quốc đến năm 2020 đã xác định có vô số việc phải làm, nếu muốn tạo ra một diện mạo mới cho ngành chế biến TSTT trong những năm tới, để hướng tới những mục tiêu như sản lượng thủy sản chế biến tiêu thụ nội địa 950.000 tấn, giá trị tăng trưởng bình quân 5,8 %/năm, 100 % cơ sở chế biến thủy sản đủ điều kiện đảm bảo VSATTP. Sản lượng thủy sản khô XK năm 2015 sẽ đạt 60.000 tấn, giá trị 250 triệu USD; năm 2020 là 80.000 tấn, giá trị 400 triệu USD....

Sản xuất nước mắm ở công ty CP Đại Yên- Quảng Ninh - Ảnh: internet
Vấn đề cấp thiết là cần có quy hoạch làng nghề truyền thống; đầu tư xây dựng các khu chế biến tập trung đủ điều kiện sản xuất kinh doanh, đáp ứng tiêu chuẩn VSATTP; phát triển mô hình liên kết dọc theo chuỗi giá trị sản phẩm, từ khai thác, nuôi trồng, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm, trong đó chú trọng phát triển vùng nuôi tập trung, hạn chế lệ thuộc vào nguồn nguyên liệu khai thác tự nhiên. Các ngân hàng và tổ chức tín dụng ưu tiên nguồn vốn đầu tư cho các dự án khả thi thuộc lĩnh vực chế biến TSTT, ưu tiên cho DN, hộ cơ sở vay.
Thành lập hiệp hội ngành nghề để giúp hội viên trao đổi kinh nghiệm, giải quyết những khó khăn mang tính tổng thể trong quá trình sản xuất kinh doanh; hướng hội viên đến hoạt động chuyên nghiệp như đăng ký thương hiệu, nhãn mác, mã vạch...cho sản phẩm, xây dựng website quảng bá, tham gia các chương trình tập huấn về VSATTP nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, không những đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của người tiêu dùng trong nước mà còn hướng tới XK để nâng cao giá trị sản phẩm, v.v...
Lê Thế Đồng