Đáng mừng về nhiều mặt …Theo Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát, với những nỗ lực phấn đấu của cơ quan quản lý, các nhà chế biến XK và đặc biệt là người nuôi, ngành sản xuất và tiêu thụ cá tra Việt Nam đã vượt qua một năm đầy thăng trầm và biến cố của kinh tế thế giới, đạt được những kết quả rất “đáng khen ngợi”!
XK cá tra đạt giá trị cao, tăng 26,5% so với năm 2010, không những duy trì và tăng mạnh ở những thị trường hiện có như Bắc Mỹ (tăng gần 90%), mà còn mở rộng sang những thị trường mới, đặc biệt là Nam Mỹ.
Trong giai đoạn năm 2012 – 2015, dù vẫn còn “dư chấn” của khủng hoảng ở châu Âu, châu Phi và Trung Đông, song, do giá bán cá tra ởnhữngthị trường ày vẫn ở mức có thể chấp nhận được nên thị trường XK cá tra Việt Nam sẽ không bị ảnh hưởng nhiều và biến động lớn - ông Nguyễn Hữu Dũng, Phó Chủ tịch VASEP, dự báo.
Bên cạnh đó, việc tổ chức liên kết trong hệ thống sản xuất ngày càng được thúc đẩy mạnh mẽ và chặt chẽ với khoảng 70% sản lượng cá tra nguyên liệu do các DN tự nuôi hoặc liên kết với người dân để nuôi. Theo ông Dũng, chuỗi sản xuất cá tra có tỷ lệ tập trung hóa rất cao và tốc độ phát triển ổn định, vì thế mối liên kết giữa các khâu trong chuỗi sản xuất có cơ sở để tiếp tục mở rộng nhằm đạt tới mục tiêu trong vài năm tới 100% cá tra nuôi được quản lý tập trung, thống nhất qua DN hay liên kết với người nuôi.
Việc hơn 30% DN và hộ nuôi triển khai mở rộng và áp dụng vào hệ thống sản xuất những tiêu chuẩn quản lý tiên tiến như GlobalGAP và những quy trình kỹ thuật tiến bộ khác đã góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của DN, giá XK cá tra đã tăng gần 24% trong năm qua; chất lượng trong nuôi trồng và chế biến thủy sản từng ngày chuyển biến theo hướng tích cực.
Nhưng vẫn còn đó nỗi lo …Mặc dù vậy, theo đánh giá của Bộ trưởng Cao Đức Phát và hầu hết đại biểu trong hội nghị, ngành sản xuất cá tra vùng ĐBSCL vẫn đối diện với nhiều khó khăn, thử thách ở phía trước.
Ông Dũng cho rằng, hiện nay, cách đánh giá vẫn quá chú ý vào các chỉ tiêu về lượng, chẳng hạn, diện tích, sản lượng, kim ngạch XK. Đã đến lúc phải tập trung vào đánh giá hiệu quả từng khâu trong chuỗi sản xuất, từ con giống, nuôi, chế biến, tiêu thụ, đến XK... Ông cho rằng, bắt đầu từ năm 2012, việc đánh giá dựa trên hiệu quả cần được đặc biệt nhấn mạnh.
Điều đáng nói ở đây là, chính những người trực tiếp “làm ra” sản phẩm cá tra, mang về mỗi năm vài tỷ đôla cho kinh tế nước nhà, lại chính là người được hưởng ít nhất từ thành quả sản xuất, thậm chí thua lỗ. XK cá tra năm 2011 được 1,8 tỷ USD, nhưng người Việt Nam được hưởng bao nhiêu phần trăm trong đó?”- ông Dũng trăn trở.
Người nuôi phải đối mặt với nhiều thử thách, trong đó, chất lượng con giống – yếu tố quyết định hiệu quả và chất lượng sản phẩm – là khâu yếu nhất trong chuỗi. Dù hiện nay đã có tiến bộ nhất định, một số trung tâm giống và hộ sản xuất giống đầu tư, ứng dụng quy trình sản xuất tiên tiến và đưa ra con giống tốt; song, nhìn chung sản xuất con giống vẫn là lĩnh vực nhiều bất cập! Bất cập từ khả năng truy xuất nguồn gốc cá bố mẹ và cá bột, cho đến quy mô sản xuất manh mún, nhỏ lẻ; chạy theo lợi nhuận mà không quan tâm đến chất lượng, v.v...
Bên cạnh đó, sản xuất và cung ứng thức ăn nuôi cá cũng tồn tại nhiều vấn đề. Thức ăn chiếm 60 – 70% giá thành sản xuất, song, có quá nhiều trung gian trong khâu phân phối và chưa thấy động thái tích cực nào của các công ty thức ăn hỗ trợ giảm “gánh nặng”cho người nuôi, giá bán thức ăn cao nhưng chất lượng không tương xứng, nhất là hàm lượng đạm mà cá tiêu hóa được.
Vốn đầu tư là vấn đề gây trở ngại lớn nhất cho cả người nuôi lẫn DN. Theo ông Dương Ngọc Minh, TGĐ Công ty CP Hùng Vương, trong những năm trước đây, sản xuất cá tra dựa vào ba nguồn vốn chính, đó là nguồn vốn tự có, vốn do nhà máy thức ăn đầu tư và vốn vay ngân hàng. Đến nay, người nuôi cá chỉ còn 1 nguồn duy nhất là vốn tự có.
Ông Nguyễn Hữu Nguyên, người nuôi cá ở An Giang, tính toán, hiện nay, để cho ra 300 tấn cá nguyên liệu/1 ha mặt nước, nông dân phải đầu tư khoảng 5 – 7 tỷ đồng, nhưng dù có tài sản tín chấp thì ngân hàng cũng chỉ cho vay khoảng 1 tỷ, thậm chí 200 – 300 triệu đồng, chỉ đủ cho xử lý hóa chất và thuốc trị bệnh trong quá trình nuôi. “Nói khác hơn, ngân hàng cho vay theo “kiểu nuôi” của ngân hàng!”- ông Nguyên nói thêm.
Đã thiếu vốn sản xuất, người nuôi còn gặp tình trạng bị chiếm dụng vốn khi mua cá, chậm thanh toán và có khi kéo dài 2 – 5 tháng, thậm chí cả năm. Mặc dù đã từng đề xuất hợp đồng mẫu nhưng quy định chưa rõ ràng và chưa thấy động thái nào về biện pháp xử lý những DN không giữ chữ tín như vậy, ông Nguyễn Chí Bình, Hiệp hội Thủy sản An Giang, bức xúc.
Thêm vào đó, sự cạnh tranh không lành mạnh cả trong lẫn ngoài nước là nỗi lo của cả ngành sản xuất cá tra. Việc bôi nhọ hình ảnh, dựng rào cản nhằm cản trở bước phát triển của cá tra Việt Nam vẫn còn, thậm chí ngày càng gay gắt. Đồng thời, một số DN Việt Nam cạnh tranh không lành mạnh, chào bán sản phẩm kém chất lượng, phá giá lẫn nhau cũng ảnh hưởng tiêu cực đến sự tăng trưởng và phát triển của ngành sản xuất cá tra Việt Nam.
Giải phápĐể thực hiện kế hoạch, năm 2012 sản lượng cá tra nguyên liệu đạt 1,2 – 1,5 triệu tấn, giá trị XK 1,85 – 2,00 tỷ USD, Bộ trưởng Cao Đức Phát đã đưa ra bốn nhóm giải pháp chính cần tập trung trong năm 2012 và những năm sắp tới.
Một là, nâng cao hiệu quả và chất lượng sản xuất cá nguyên liệu. UBND các tỉnh chỉ đạo cơ quan chức năng địa phương tăng cường kiểm tra, giám sát chặt chẽ hơn nữa chất lượng con giống, vật tư, … đặc biệt là thức ăn.
Hai là, đề nghị ngân hàng nhà nước tập hợp nhu cầu vốn của người nuôi và DN chế biến, tìm biện pháp tháo gỡ đầu tư hợp lý, đáp ứng kịp thời nhu cầu vay vốn để sản xuất.
Ba là, chú trọng phát triển bền vững, nâng cao uy tín của cá tra Việt Nam. Tiếp tục nỗ lực khuyến khích và hỗ trợ người nuôi áp dụng các tiêu chuẩn bền vững như VietGAP, GlobalGAP, ASC,… Mục tiêu năm 2012 khoảng 50% – 60% cá tra sản xuất theo các tiêu chuẩn bền vững. Đẩy mạnh thiết lập hệ thống quản lý theo chuỗi từ ao nuôi đến bàn ăn, trong đó, sự hợp tác giữa “hai nhà” (DN và người nuôi) phải ngày càng chặt chẽ hơn.
Bốn là, bên cạnh tiếp tục đẩy mạnh sản xuất chế biến các mặt hàng GTGT, cần tăng cường bảo vệ và phát triển thị trường, sẵn sàng lên tiếng đấu tranh với những hành vi bôi nhọ hình ảnh cá tra, rào cản bất công, kinh doanh bất chính gây cản trở đến sự phát triển bền vững của ngành cá tra Việt Nam.
Trương Ngô Bích Ngọc
thực hiện