
Ông Chu Văn An Phó TGĐ Tập đoàn Thủy sản Minh Phú
Trước hết, cho tôi được thay mặt toàn thể cán bộ công chức và người lao động của Tập đoàn Thuỷ sản Minh Phú xin chúc mừng Bộ trưởng, chúc mừng ngành NN&PTNT Việt Nam vừa được Diễn đàn Kinh tế Thế giới lần thứ 42 tại Davos Thuỵ Sĩ đánh giá là một điển hình xuất sắc trong việc phát triển nông nghiệp ở các nước đang phát triển.
Trong khuôn khổ hội nghị này cho phép tôi được phát biểu một số ý kiến về thực trạng nuôi tôm nước lợ ở Việt Nam có liên quan đến XK và một số kiến nghị cụ thể.
Nước ta mà đặc biệt là ĐBSCL có điều kiện tự nhiên rất thuận lợi để nuôi tôm nước lợ. Nông dân Việt Nam cần cù, chịu khó và thông minh. Chi phí đầu vào (giá điện, vật tư, máy móc thiết bị và giá nhân công) cho nuôi tôm thấp so với Thái Lan và các nước trong khu vực. Nhưng một điều hết sức phi lý là giá tôm nguyên liệu của Việt Nam lại cao hơn giá tôm của các nước trong khu vực. Cụ thể: tôm thẻ chân trắng cỡ 40 con/kg cao hơn Thái Lan 34.800 đ; cỡ 60 con/kg cao hơn 22.400 đ; cỡ 80 con/kg cao hơn 33.300 đ; cỡ 100con/kg cao hơn 18.700 đ.
Chúng ta có nhiều lợi thế hơn họ, tại sao lại có sự chênh lệch giá như vậy? Qua điều tra, thống kê, theo dõi và đánh giá, chúng tôi thấy nguyên nhân là do tỷ lệ thành công trong nuôi tôm của họ cao trên 70% còn ở nước ta là thấp, chỉ trên dưới 30%.
Xin phép được phân tích cụ thể hơn vấn đề hiệu quả nuôi tôm thấp ở Việt Nam.
1. Nuôi tôm của Việt Nam đa số là tự phát, nhỏ lẻ thiếu quy hoạch; lại không có hệ thống thuỷ lợi, lấy nước ở đó lại xả ra đó, hộ nọ lấy nước của hộ kia xả ra nên dịch bệnh lây lan không kiểm soát được. Nuôi tôm thắng ít bại nhiều, càng nuôi tôm dân lại càng nghèo đi.
2. Quản lý Nhà nước về con giống còn nhiều bất cập, không kiểm soát được chất lượng và dịch bệnh trong tôm giống. Tình trạng “nhà nhà làm giống, người người làm giống”, đủ điều kiện cũng làm, không đủ điều kiện cũng làm như hiện nay, cạnh tranh khốc liệt dẫn đến chất lượng con giống rất kém. Những trại giống quy mô lớn nhập tôm bố mẹ ở Hawai, Xingapo, Malaixia, với giá từ 50-100 USD/con, sản xuất ra giống tôm sú với giá thành không dưới 70 đ/con, post thẻ không dưới 50 đ/con. Nhưng ngoài thị trường giá bán tôm sú giống dưới 50 đ và tôm thẻ dưới 30đ/con, do một số trại giống mua tôm bố mẹ từ nhiều nguồn trong nước giá chỉ 50-100.000 VNĐ/con. Con giống sản xuất từ nguồn giống bố mẹ trong nước dễ xảy ra cận huyết, nuôi không lớn và dễ bị dịch bệnh. Khi xảy ra dịch bệnh lại dùng kháng sinh để xử lý. Nếu có con giống tốt, sạch bệnh thì ngoài việc nuôi hiệu quả còn là một trong những điều kiện ngăn ngừa kháng sinh trong nuôi trồng thuỷ sản. Hiện nay các DN thủy sản đang đau đầu với việc kiểm tra dư lượng kháng sinh trong các lô hàng tôm XK. Đặc biệt tại Nhật, ta có nguy cơ bị mất thị trường.

Tôm sú sushi - Sản phẩm của Minh Phú
Liên quan đến việc nuôi tôm nước lợ tôi xin có một số kiến nghị như sau:
1. Nhà nước cùng các địa phương phải tập trung quy hoạch vùng nuôi tôm tập trung, có quy mô lớn từ 100 đến vài trăm ha trở lên, từ đó sẽ quy hoạch, đầu tư hệ thống thuỷ lợi hợp lý, xây dựng được hệ thống an toàn sinh học. Như vậy phát triển nuôi tôm mới bền vững.
2. Ngành sản xuất tôm giống phải là ngành sản xuất kinh doanh có điều kiện. Cơ sở nào có đủ điều kiện vốn, quy mô, kỹ thuật, công nghệ thì mới cấp phép cho hoạt động. Các cơ sở giống nên cho phát triển tập trung ở miền Trung vì điều kiện tự nhiên ở đây thuận lợi. Theo chúng tôi, chỉ cần khoảng 15 -20 trại giống quy mô lớn, công nghệ tiên tiến, đủ điều kiện là đủ cung cấp giống tôm khu vực miền Nam và miền Trung, như vây sẽ dễ kiểm soát hơn.
3. Đề nghị Bộ NN&PTNT cho các cơ quan chức năng kiểm tra rà soát lại danh mục đầy đủ các loại kháng sinh, hóa chất mà các thị trường đang cấm, căn cứ vào đó có chỉ thị cấm tuyệt đối sử dụng các chất ấy trong nuôi trồng, chế biến thủy sản và trong nông nghiệp.
4. Đề nghị Bộ phân nhiệm vụ cho cơ quan quản lý chất lượng thủy sản ở địa phương kiểm soát kháng sinh trong nuôi tôm. Các ao nuôi trước khi thu hoạch phải được kiểm tra và cấp giấy chứng nhận đảm bảo không nhiễm kháng sinh mới được cung cấp cho các nhà máy chế biến XK. Các DN chỉ được sản xuất chế biến từ các lô hàng đã được kiểm soát. Hiện ở Ấn Độ, Inđônêxia và Thái Lan đang làm theo hướng này, vì vậy khách hàng yên tâm hơn; khi họ xuất vào Nhật, tần suất kiểm soát thấp và kiểm tra rất ít chỉ tiêu. Hiện nay khách hàng Nhật đang có xu hướng chuyển dần hợp đồng từ Việt Nam sang các nước nêu trên.
5. Đề nghị Bộ mời cơ quan của Nhật kiểm tra và công nhận một phòng kiểm nghiệm độc lập của Việt Nam đạt yêu cầu kiểm tra của phía Nhật. Kết quả kiểm tra này nếu đạt thì được XK vào Nhật mà không phải kiểm tra tại Nhật nữa. Việc này lấy lại uy tín cho tôm Việt Nam trong việc kiểm soát kháng sinh, giảm bớt gánh nặng chi phí cho khách hàng so với khi phải kiểm tại Nhật. Hiện nay Nhật đã công nhận các phòng kiểm nghiêm độc lập tại Thái Lan, Ấn Độ.6. Đề nghị Bộ tác động với Chính phủ Nhật và các cơ quan kiểm tra chất lượng của Nhật đồng nhất trong việc quy định tiêu chuẩn kháng sinh. Hiện nay quy định đối với thịt, sữa là 50 ppb, trong khi đối với tôm, cá là 10ppb. Như vậy áp dụng cho thuỷ sản khắt khe hơn.