
Bộ trưởng Cao Đức Phát chỉ đạo hội nghị “Tổng kết tình hình nuôi tôm lợ năm 2011 và bàn giải pháp triển khai kế hoạch sản xuất năm 2012” tổ chức vào ngày 08/02/2012 tại Cà Mau
Vô vàn gian khóVụ tôm năm 2011 khởi đầu trong bối cảnh khó khăn trên nhiều phương diện, từ những biến động khó lường của nền kinh tế, đến diễn biến phức tạp về thời tiết, môi trường dẫn đến dịch bệnh có cơ hội bùng phát trên diện rộng ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất. Chỉ từ cuối quý I đến giữa quý II năm 2011, thiệt hại do tôm chết đã lên đến mức kỷ lục so với nhiều năm năm gần đây, đặc biệt là tại một số tỉnh ĐBSCL. Diện tích nuôi tôm bị dịch bệnh tàn phá đã lên đến 97.691 ha, nghiêm trọng nhất là Sóc Trăng với hơn 25.000 ha tôm nuôi thâm canh, bán thâm canh bị mất trắng. Kết quả khảo sát cho thấy, tôm chết chủ yếu trong thời gian sau khi thả giống từ 15 – 40 ngày vì bệnh teo gan tụy.
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng trên là do sự thiếu hiểu biết trong việc sử dụng các loại hóa chất trong NTTS, đặc biệt là việc sử dụng các sản phẩm nông dược có thành phần Cypermethrin, Deltamerthrin để diệt tạp và cải tạo ao, để lại dư lượng làm tôm bị nhiễm độc và chết hàng loạt. Bên cạnh đó, việc sử dụng các loại thuốc, hóa chất, thức ăn không bảo đảm, và nhất là chất lượng tôm giống xấu, tôm yếu không có sức đề kháng càng làm cho dịch bệnh dễ bùng phát.
Trong điều kiện đó, sự vào cuộc quá chậm trễ của các của cơ quan quản lý và chuyên môn khiến người dân phải tự phát tìm cách đối phó nhưng không hiệu quả cũng khiến dịch bệnh kéo dài, đẫn đến thiệt hại cao hơn.
Ông Trần Văn Của – Chủ tịch Hội Thủy sản Cà Mau
Thành công vang dộiTuy nhiên, vượt qua tất cả những khó khăn trên, 2011 cũng là năm đại thắng của ngành nuôi, chế biến và XK tôm nước nhà, góp phần đưa sản lượng NTTS của cả nước đạt hơn 3,2 triệu tấn. Giá trị XK tôm năm 2011 đạt xấp xỉ 2,4 tỉ USD, chiếm tỉ trọng hơn 39% trong mốc kỷ lục 6,118 tỷ USD tổng kim ngạch XK thủy sản của cả nước. Đây là kết quả vượt quá mong đợi, là sự đền đáp xứng đáng cho nỗ lực vượt khó của nông, ngư dân, doanh nghiệp và toàn ngành. Thành quả này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế thế giới và trong nước.
Cùng với cá tra, con tôm với hai loài tôm sú và tôm chân trắng vẫn là đối tượng thủy sản nuôi chủ lực, có vị trí quan trọng góp phần cải thiện dân sinh, ổn định kinh tế, chính trị-xã hội các vùng nông thôn nghèo ven biển. Dù có khó khăn, kết quả nuôi tôm nước lợ năm 2011 vẫn thực hiện được các chỉ tiêu kế hoạch và tiếp tục tăng trưởng so với năm 2010, với sản lượng 495.657 tấn trên diện tích thả nuôi 656.425 ha, gồm 623.377 ha nuôi tôm sú và 33.049 ha nuôi tôm chân trắng; tăng 5,48% về sản lượng và 2,71% về diện tích so với năm trước. Mặc dù sản lượng tôm sú chỉ đạt 319.206 tấn, bằng 95,81%, nhưng sản lượng tôm chân trắng đã tăng mạnh, đạt tới 176.451 tấn, bằng 129,06% so với năm 2010. ĐBSCL vẫn chiếm ưu thế tuyệt đối về nuôi tôm nước lợ với hơn 91,8% diện tích và 74,4% sản lượng thu hoạch của cả nước.
Ông Nguyễn Văn Nhiệm – Chủ tịch Hiệp Hội Tôm Mỹ Thanh
Bội thu những bài họcKết thúc năm 2011 với nhiều cung bậc thăng trầm, cái được của ngành tôm nước nhà không chỉ dừng lại ở những con số đáng tự hào về sản lượng, diện tích, năng suất hay kim ngạch XK…
Cái loán hơn là những trăn trở và những bài học quý giá đã đúc kết được từ thực tế sản xuất, những bài học đã phải trả bằng giá đắt.Bài học về vai trò quyết định của con giống tốt, sạch bệnh đối với sự thành công của nghề nuôi tôm, cũng như với mọi nghề sản xuất nuôi, trồng khác, là bài học không hề mới, nhiều người thuộc, nhưng không phải bao giờ cũng được nhớ đến và vận dụng đúng lúc. Trước nhu cầu tôm giống tăng lên từng ngày, các cơ sở sản xuất tôm giống đã mọc lên như nấm và sẵn sàng bỏ qua mọi yêu cầu kỹ thuật, cốt làm sao có tôm giống thật nhanh. Sự buông lỏng quản lý của các cơ quan chức năng góp phần dẫn đến một tỉ lệ lớn con giống được đưa ra thị trường với chất lượng rất kém và không qua kiểm dịch, tôm thả nuôi có tỷ lệ sống thấp, thậm chí chết hàng loạt, dịch bệnh dễ bùng phát, gây thiệt hại cho người nuôi, đồng thời cũng đẩy chi phí sản xuất lên cao, làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm. Để giải quyết vấn đề này, ông Chu Văn An – Phó TGĐ thường trực Tập đoàn Thủy sản Minh Phú đề xuất: “Sản xuất con giống phải là ngành sản xuất kinh doanh có điều kiện về vốn, kỹ thuật… Nên tập trung thành lập từ 10-15 công ty sản xuất giống với qui mô lớn để dễ dàng quản lý”.
Nguồn tôm sú bố mẹ hiện nay chủ yếu bắt từ tự nhiên và đây chính là nguy cơ mang mầm bệnh mới vào vùng nuôi. Vì thế, gia hóa tôm sú để có đàn bố mẹ được sản xuất trong điều kiện có kiểm soát đang trở thành nhu cầu bức thiết. Mặc dù tôm chân trắng đã được gia hóa nhưng tôm bố mẹ vẫn phải lệ thuộc hoàn toàn vào nguồn NK. Đây là bất lợi rất lớn đối với một nước sản xuất tôm lớn như Việt Nam. Giải pháp cơ bản, lâu dài là phải làm chủ được nguồn tôm bố mẹ, nhưng với tình thế trước mắt, cơ quan chức năng cần sớm công bố danh sách các cơ sở sản xuất đủ điều kiện, số lượng và nguồn gốc tôm bố mẹ … để người dân dễ dàng chọn lựa cơ sở để mua. Mặt khác, cần tập trung đào tạo, hướng dẫn tập huấn để người nuôi đủ kiến thức nhận biết con giống tốt, đạt chất lượng để thả nuôi. Đồng thời, trong giai đoạn đầu, Nhà nước có thể hỗ trợ chi phí xét nghiệm chất lượng con giống để giảm giá thành, khuyến khích người nuôi lựa chọn mua tôm giống chất lượng tốt, có nguồn gốc rõ ràng,… Khi đó các cơ sở sản xuất giống không muốn bị đào thải sẽ phải tuân thủ quy trình kỹ thuật và nghiên cứu nâng cao chất lượng con giống, không cần sự kiểm tra, giám sát thường xuyên của cơ quan chức năng.
Cùng với con giống, dịch bệnh là vấn đề nóng trong vụ tôm năm qua. Càng ngày, tôm nuôi càng nhiễm nhiều bệnh, trong đó đáng chú ý nhất là bệnh đốm trắng và hoại tử gan tụy. Mới đây đã phát hiện bệnh IMMV (do virus IMMV gây ra) trên tôm chân trắng, đang gây thiệt hại rất lớn ở nước ngoài. Nếu kiểm dịch không tốt, loại bênh phải khó đối đầu nhất trên tôm nuôi Việt Nam còn là hoại tử nữa mà sẽ là IMMV. TS Nguyễn Văn Hảo, Viện trưởng Viện nghiên cứu NTTS II, cho rằng “Cần phát triển mô hình nuôi tôm không thay nước, duy trì môi trường nuôi luôn ổn định, kiểm soát đạm, lân…để tránh lây lan mầm bệnh. Cập nhật qui trình nuôi tiên tiến, thực hiện đúng lịch mùa vụ, thay đổi tập quán của người nuôi sẽ làm giảm 40% các mối nguy. Cục thú y đưa bệnh này vào danh mục các chỉ tiêu kiểm soát đối với tôm NK. Tăng cường đưa thông tin đến người dân, tránh tình trạng người dân “mù” thông tin, như trong thời gian qua người dân vẫn tiếp tục sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật trong NTTS mà không biết gì về nguyên nhân gây chết tôm hàng loạt là do nhiễm độc các loại thuốc này”.

Ông Nguyễn Văn Nhiệm – Chủ tịch Hiệp Hội Tôm Mỹ Thanh
Chắc bước vào năm 2012Năm 2012, dự báo tình hình chung còn có nhiều khó khăn, phức tạp hơn năm 2011. Tuy nhiên, với những thành quả đã đạt được trong năm 2011, cùng với quyết tâm chung, ngành thủy sản nói chung, ngành tôm nói riêng, vẫn tin tưởng sẽ tiếp tục tiến lên những mốc cao mới.
Tại hội nghị “Tổng kết tình hình nuôi tôm lợ năm 2011 và bàn giải pháp triển khai kế hoạch sản xuất năm 2012”, tổ chức tại TP. Cà Mau ngày 8/02/2012 dưới sự chủ trì của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát và lãnh đại UBND tỉnh Cà Mau, Tổng Cục Thủy Sản đã trình bày kế hoạch, diện tích nuôi tôm năm 2012 đạt 650.000 ha với sản lượng 510.000 tấn, trong đó, tôm sú chiếm 94,6% về diện tích và 62,7% về sản lượng, còn lại là tôm chân trắng. Phấn đấu năm 2012 có khoảng 50% cơ sở nuôi tôm được chứng nhận VietGAP, 50% diện tích nuôi tôm thâm canh, bán thâm canh thực hiện nuôi có điều kiện và đảm bảo VSATTP.
Trao đổi về cơ sở tạo nên niềm tin ở thắng lợi trong vụ tôm tới, ông Trần Văn Của, Chủ tịch Hội Thủy sản Cà Mau, cũng là người đứng đầu tổ hợp tác nuôi tôm lớn nhất tỉnh Cà Mau với diện tích lên đến 150 ha, chia sẻ mộc mạc: “Nuôi tôm là ngành siêu lợi nhuận, nhưng cũng như đánh giặc, có trận thắng, trận thua. Nhưng nhìn chung, xét cả năm thì là thắng nếu đầu tư bài bản, năm vững kỹ thuật”. Với kinh nghiệm nhiều năm trong trong nghề nuôi tôm, ông khẳng định “Con sú và con tôm chân trắng như vợ với chồng, có thể chung sống một nhà. Tổ hợp tác của tôi đã nuôi con thẻ chân trắng từ vài năm trở lại đây. Thực tế cho thấy chúng vẫn phát triển rất tốt. Thậm chí tôm sú sót lại sau khi thu hoạch sống chung với thẻ chân trắng đến khi thu hoạch được hàng trăm kilô tôm sú mà quá trình nuôi không phát sinh dịch bệnh gì. Hiện tại tổ hợp tác vẫn duy trì 20% tôm sú, 40% tôm chân trắng”. Tôm chân trắng có được chấp nhận “sống chung nhà” với tôm sú hay không? Đó là câu hỏi người nông dân khát khao được các nhà khoa học và cơ quan quản lý trả lời trong vụ nuôi năm 2012.
Ông Nguyễn Văn Nhiệm, Chủ tịch Hiệp Hội Tôm Mỹ Thanh, đề nghị “Cần nâng cao mức thuế đối với tôm nguyên liệu NK nhằm khuyến khích phát triển công nghệ trong nước, ngăn ngừa dịch bệnh thâm nhập. VASEP TS Nguyễn Văn Hảo – Viện trưởng Viện nghiên cứu NTTS IIcần tăng cường quảng bá hình ảnh con tôm Việt Nam, đồng thời tổ chức để nông dân có điều kiện tham quan, học tập kinh nghiệm và khoa học công nghệ tiên tiến. Cộng đồng DN cần nghiên cứu xây dựng khung giá mua tôm thích hợp, không để xảy ra tình trạng giá mua tôm nhiễm kháng sinh và không nhiễm kháng sinh giống nhau như hiện nay. Các cơ quan làm nhiệm vụ quan trắc dịch bệnh, môi trường cần đưa ra cảnh bảo chính xác, kịp thời và hướng dẫn cụ thể phương án, kế hoạch chống dịch và dập dịch cho nông dân. Lịch thời vụ là cần thiết nhưng cũng nên linh hoạt, có quy định riêng cho những cơ sở có đủ khả năng nuôi trái vụ, vì nuôi trái vụ là một phương án hiệu quả để đảm nguồn cung luôn ổn định”.
Kết luận hội nghị, Bộ trưởng NN&PTNT Cao Đức Phát đã đưa ra 6 nhóm giải pháp cơ bản, tập trung vào khâu quản lý chất lượng con giống; quản lý giá và chất lượng thức ăn, thuốc, hóa chất, đặc biệt thực hiện nghiêm quy định cấm sử dụng các loại thuốc, hóa chất trong danh mục không được phép sử dụng; triển khai qui trình nuôi tiến bộ hướng đến sản xuất GTGT cao hơn, sản xuất tôm chất lượng hơn; rà soát điều chỉnh hợp lý qui hoạch vùng nuôi; Huy động các nguồn lực để xây dựng cơ sở hạ tầng vùng nuôi và tăng cường công tác quản lý Nhà Nước về NTTS.Kết quả đạt cao về diện tích, sản lượng hay giá trị là thành tựu rất đáng tự hào, nhưng những bài học rút ra từ thất bại và thành công sau một mùa vụ với vô vàn khó khăn mới là phần thưởng xứng đáng nhất, là nền tảng để hướng đến những vụmùa bội thu tiếp sau và xa hơn nữa là hướng tới một nền sản xuất bền vững.
Đ.V.T.