Trong khoảng 10 năm trở lại đây, ngành nuôi thủy sản (NTS) ở nước ta đã phát triển vượt bậc. Phong trào chuyển đổi cơ cấu sản xuất sang NTS diễn ra mạnh mẽ trên cả nước, đặc biệt là ở các vùng ven biển miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Trong quá trình tăng nhanh diện tích và sản lượng NTS, cùng với các yếu tố khác, phải kể đến vai trò không thể thiếu của ngành sản xuất thức ăn nuôi thủy sản.
Hiện nay, Việt Nam có khoảng 130 nhà máy sản xuất thức ăn cho vật nuôi thủy sản với công suất thiết kế ước 4,5 triệu tấn. Sản lượng thực tế của các nhà máy này đạt khoảng 3,77 triệu tấn, đáp ứng 85% nhu cầu thức ăn của các cơ sở NTS, số thức ăn NK và tự chế biến chiếm khoảng 15%. Điều đáng chú ý là các nhà máy sản xuất thức ăn hoàn chỉnh có công suất từ 70.000 tấn/năm trở lên đều là các DN liên doanh hoặc DN 100% vốn đầu tư nước ngoài, như Cargill Việt Nam, Grobest & I-Mei Industrial, CP Việt Nam, Uni-President, Tomboy, CJ Vina Agri, Proconco,… tập trung chủ yếu tại các tỉnh phía Nam như Đồng Nai, Bình Dương, Long An, Cần Thơ,…
Liên tục tăng giá từ đầu năm đến nayTại hội nghị “Tìm giải pháp nâng cao chất lượng, giảm giá thành thức ăn chăn nuôi”, do Bộ NN&PTNT tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 6/12/2011 vừa qua, ông Trần Cao Mưu, Tổng Thư ký Hội Nghề cá Việt Nam (VINAFIS) cho biết, từ đầu năm đến nay giá thức ăn thủy sản đã có đến 6-7 lần tăng giá, mỗi lần từ 200 – 300 đ/kg. Giá thức ăn lâu nay chỉ có một chiều tăng, chưa hề giảm. Điều này gây nhiều khó khăn cho người nuôi, chính vì vậy, dù chế biến thủy sản XK thiếu nguyên liệu, giá nguyên liệu tăng nhưng diện tích nuôi trồng thủy sản (nhất là cá tra) vẫn giảm.
Phân tích nguyên nhân của tình trạng trên, ông Mưu cho rằng đó là do tình trạng một số DN chế biến thức ăn có tỷ lệ chiết khấu cho các đại lý quá lớn, tới hơn 3.200 đ/kg. Thậm chí có một số DN Trung Quốc còn đưa ra mức chiết khấu lên đến 5.500 – 6.000 đ/kg thức ăn, tạo ra sự cạnh tranh không công bằng giữa các DN. Và nghịch lý ở chỗ, đáng lẽ phần chiết khấu trên phải do chính DN chế biến thức ăn tự chiết giảm lợi nhuận của mình thì họ lại tăng giá bán. Điều đó có nghĩa là người nuôi đang bị ép phải gánh trên lưng mình một khoản chi phí hết sức vô lý cho các đại lý.
Bên cạnh đó, một thực tế đáng buồn là nguồn cung thức ăn nuôi thủy sản Việt Nam đang nằm trọn trong sự “thống trị” của các DN nước ngoài, khi họ nắm giữ tới hơn 80% thị phần và hoàn toàn có quyền chi phối giá cả. Trong khi đó, Nhà nước lại chưa sử dụng quyền lực hợp pháp của mình về quản lý hay ra cơ chế, chính sách để can thiệp, điều chỉnh mà chỉ dừng ở mức khuyến cáo,…
Thứ trưởng Bộ NN&PTNT, Bà Nguyễn Thị Xuân Thu
Đại diện các nhà sản xuất giải thích, rằng giá nguyên liệu làm thức ăn tăng cao, trong khi chủ yếu nguyên liệu sản xuất thức ăn phải NK, rồi chi phí điện nước, lãi ngân hàng cũng tăng cao, lương công nhân kể cả tỉ giá đều tăng… nên họ buộc phải tăng giá bán thức ăn.
Ông Bùi Đức Quý
Tuy nhiên, ông Bùi Đức Quý, Giám đốc Trung tâm Khảo nghiệm và Kiểm định NTTS cho biết, trong quý 3/2011, giá nhiều loại nguyên liệu sản xuất thức ăn thủy sản đã giảm mạnh, như đậu tương 428 USD/tấn (giảm 34 USD so với quý 2), lúa mì 6.700 đồng/kg (giảm 500 đồng/kg), cám gạo 5.400 đồng/kg (giảm 700 đồng/kg), bắp 6.300 đồng/kg (giảm 1.050 đồng/kg), bột cá 18.900 đồng/kg (giảm 1.000 đồng/kg), ... nhưng các nhà sản xuất thức ăn vẫn không hề có động thái nào để chia sẻ với người chăn nuôi.
Ông Trần Cao Mưu
Hơn nữa, các DN này còn được hưởng biểu thuế NK ưu đãi theo danh sách mặt hàng chịu thuế từ ngày 1/1/2011, trong đó thuế NK bột cá, bột thịt, dầu cá… từ 5% - 10% xuống còn 0% và thuế GTGT cho nguyên liệu sản xuất thức ăn giảm còn 5%.
Còn ông Nguyễn Văn Nhiệm, Chủ tịch Hiệp hội Tôm Mỹ Thanh (Sóc Trăng) phân tích, so với các nước khác, khi đầu tư vào Việt Nam, các DN có vốn đầu tư nước ngoài đã được hưởng giá điện thấp, nhân công rẻ hơn, phí môi trường thấp… Vì vậy, chất lượng, giá thức ăn chăn nuôi ở ta lẽ ra phải ở mức thấp hơn hoặc bằng các nước xung quanh.
Chất lượng đáng báo độngĐịnh kỳ hằng năm, Tổng cục Thủy sản đều triển khai lấy mẫu thức ăn thủy sản tại vùng NTS lớn ở ĐBSCL và miền Đông Nam Bộ để kiểm nghiệm. Kết quả kiểm nghiệm gần đây cho thấy, thức ăn kém chất lượng, không đạt tiêu chuẩn chiếm đến 20% số mẫu. Đặc biệt, năm 2008 tại Đồng Tháp, trong 131 mẫu có tới có 56 mẫu không đạt chất lượng (chiếm 42,7%); năm 2011 đã kiểm tra 37 mẫu thức ăn thủy sản và tiếp tục phát hiện 6 mẫu không đạt chất lượng. Năm 2011, Chi cục Thủy sản Đồng Nai qua kiểm tra, phát hiện 2/7 mẫu không đạt chất lượng…
Tuy nhiên, theo ông Quý, chỉ tính riêng thức ăn hỗn hợp đã có đến 5.000 sản phẩm, thức ăn bổ sung có khoảng 3.000 sản phẩm, sản phẩm xử lý môi trường cũng khoảng 3.000. Trong khi đó, kinh phí dành cho việc kiểm nghiệm thức ăn NTS hiện nay chỉ có 1,5 tỉ đồng/năm, nên mỗi năm chỉ kiểm tra được khoảng 100 sản phẩm thức ăn và sản phẩm xử lý môi trường, quá ít so với thực tế cần kiểm tra.
Theo Thứ trưởng Nguyễn Thị Xuân Thu, vấn đề quan trọng nằm ở khâu lưu thông phân phối, bởi đây là mạng lưới và là cả một quá trình dài đến tay người chăn nuôi. Thức ăn được sản xuất từ nhà máy có thể có chất lượng tốt, nhưng đến tay người nuôi thủy sản thì chất lượng đã giảm 20-30%. Tuy nhiên, Thứ trưởng cho biết, trên thực tế, hiện Nhà nước không đủ năng lực để kiểm soát, chi phí cho công tác kiểm tra cũng còn nhỏ, Nhà nước hiện còn hạn chế đầu tư phòng kiểm nghiệm, nên các DN cần tự triển khai để bảo vệ uy tín của mình. Nhà nước cho phép DN tự công bố chất lượng, nếu vi phạm thì sẽ bị phạt. Nghĩa là phải cần sự tự giác rất cao của DN mới hy vọng thức ăn nuôi thủy sản có chất lượng bảo đảm!
Lời giải nào cho vấn đề?Theo kiến nghị của Hội Nghề cá Việt Nam, Nhà nước cần có các biện pháp chặt chẽ hơn nữa để kiểm soát tỷ lệ chiết khấu của nhà máy với các đại lý thức ăn, đảm bảo tỷ lệ hợp lý nhằm chia sẻ lợi ích với người nông dân. Mặt khác, các cơ quan chức năng cần tăng cường công tác kiểm tra,giám sát việc tăng giá thức ăn NTS của các DN theo quy định hiện hành về số lần tăng giá trong năm và tỷ lệ tăng phù hợp.
Ông Trần Cao Mưu cũng đề nghị phải nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý cùng với trang thiết bị kiểm tra, giám sát chất lượng cho các cơ quan từ trung ương đến địa phương, đủ điều kiện và năng lực kiểm tra chính xác chất lượng thức ăn NTS. Đồng thời có chế tài xử lý nghiêm các cá nhân, tổ chức không tuân thủ các quy định về quản lý chất lượng thức ăn, thức ăn không đúng với tiêu chuẩn được công bố, người hành nghề không có chứng chỉ, không có giấy phép hoạt động…
Ông Bùi Đức Quý cho rằng cần thành lập kho dự trữ nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi quốc gia để thu mua nguyên liệu khi giá thấp và bán cho các công ty chế biến thức ăn lúc thị trường nguyên liệu thế giới tăng. Bên cạnh đó, căn cứ vào cơ cấu giá của thức ăn, Bộ NN&PTNT nghiên cứu đưa ra mức giá trần của thức ăn chăn nuôi trên thị trường. Bởi theo ông, hiện có tới 130 DN thức ăn chăn nuôi mà chỉ có 10 DN nằm trong danh sách có nhiệm vụ bình ổn giá thì không thể điều phối được thị trường.
Đại diện Bộ Công thương cũng nhận định, khi các DN có vốn nước ngoài đang chi phối thị phần thức ăn chăn nuôi ở nước ta, thì khó mà bắt buộc những DN này phải làm nhiệm vụ bình ổn giá.
Ông Nguyễn Văn Nhiệm đề xuất thành lập các nghiệp đoàn nghề nuôi ở những vùng NTTS. Những nghiệp đoàn này sẽ giúp cho người nuôi có cơ hội mua được thức ăn với giá gốc, mà không phải tốn thêm nhiều chi phí cho khâu trung gian.
Cả đại diện Bộ Công thương và Tổng cục Thủy sản đều không kỳ vọng ở thức ăn thủy sản có chất lượng tốt với giá thấp, mà chỉ mong muốn có những sản phẩm chất lượng cao với giá thành hợp lý, tương xứng với chất lượng để nguồi nuôi thủy sản ít chịu rủi ro hơn.
Đoàn Trần Duy