NTTS tiếp tục là ngành SX thực phẩm có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất
Để đáp ứng nhu cầu tăng lên, sản lượng thực phẩm sẽ phải tăng lên 70% so với mức hiện nay. Do đó, cần sử dụng hiệu quả những nguồn dinh dưỡng làm thức ăn cho thủy sản khi NTTS đóng vai trò chủ chốt trong sản xuất thực phẩm trên những khu vực bị hạn chế về diện tích.
Theo đề xuất của Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên hợp quốc (FAO), mỗi cá nhân cần 3.000 kcal/ngày để đảm bảo được cung cấp đầy đủ dinh dưỡng. Trên thực tế, tiêu dùng dao động từ 2.366 kcal/ngày ở vùng Hạ-Sahara (châu Phi) tới 3.955 kcal/ngày ở các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Tại châu Á, nơi dân số chiếm hơn 50% dân số thế giới - tiêu dùng thực phẩm đạt 2.793 kcal/ngày/người.
An toàn thực phẩm có nghĩa là thực phẩm được phân bố đều cho các vùng và điều này trở nên đặc biệt quan trọng trong thập kỷ tới, khi tình hình tăng trưởng dân số và phân bổ dân số thay đổi.
Thực phẩm và nguồn thức ănViễn cảnh trong tương lai về dân số toàn cầu tăng lên sẽ đòi hỏi phải tăng những nguồn thực phẩm sẵn có. Theo FAO, sản lượng thực phẩm chung tới năm 2050 sẽ phải tăng 70% so với hiện nay thông qua mở rộng các lĩnh vực sản xuất và tăng hiệu quả sản xuất trên diện tích nuôi. Những chiến lược này rõ ràng vẫn bị hạn chế vì sự eo hẹp về diện tích và kỹ thuật.
Mặc dù hiệu quả sản xuất tăng lên ở những vùng như Mỹ La tinh, Trung Đông và Nam Phi, năng suất sản xuất thực phẩm trung bình trên mỗi hecta vẫn ổn định trong 11 năm qua. Để đáp ứng nhu cầu tăng lên đối với thực phẩm, cần phải có những lựa chọn khác để đáp ứng nhu cầu của từng khu vực.Thức ăn chăn nuôi chiếm một phần nhỏ đóng góp vào cán cân thực phẩm chế biến - thực phẩm ăn sẵn. Ước tính gần 50% tổng nguồn lợi thực phẩm được sử dụng để sản xuất thức ăn chăn nuôi và với tốc độ tiêu thụ thịt trên toàn cầu tăng lên, áp lực đối với các nguồn thực phẩm sẽ ảnh hưởng tới các hệ thống nuôi.
Dự đoán sản lượng thịt hàng năm sẽ tăng lên gấp đôi vào năm 2050 nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và sẽ tiếp tục gây áp lực lên giá ngũ cốc – nguyên liệu để sản xuất thức ăn chăn nuôi. Điều chỉnh theo sự gia tăng dân số tại những quốc gia bị thiếu hụt thực phẩm sẽ đòi hỏi phải sử dụng nguyên liệu thô gần với cấp độ tăng thực phẩm, một số loại nguyên liệu này hiện nay được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi. Tiếp theo, khó có thể tăng sản lượng thịt do hiệu quả chuyển đổi thức ăn hạn chế, trung bình tỷ lệ hiệu suất thức ăn dao động từ 7:1 tới 4:1 đối với các nguồn thức ăn thực vật dành cho gia súc, lợn và gia cầm.
Một thực tế cơ bản khác trong bức tranh toàn cảnh về các nguồn thực phẩm trên toàn cầu là sự lãng phí dinh dưỡng. Ước tính tới 30% sản lượng thực phẩm trên toàn cầu không được sử dụng cho các mục tiêu dinh dưỡng. Với trung bình 4.800 kcal thực phẩm được sản xuất trong 1 ngày cho 1 người, có tới 600-800 kcal bị mất đi trong quá trình sản xuất, chế biến và phân phối. Tăng hiệu quả trong chuỗi thực phẩm có thể góp phần tạo ra các nguồn cung cấp thực phẩm có giá trị cũng như nguồn thức ăn chăn nuôi cùng với sự gia tăng dân số.những thách thức và
Cơ hội NTTS bền vữngTheo FAO, thủy sản là một trong những nguồn cung cấp protein động vật quan trọng nhất. Tuy nhiên, trong một thời gian dài phần lớn những nguồn dinh dưỡng chất lượng cao này lại phụ thuộc vào việc khai thác các nguồn lợi tự nhiên. FAO ước tính tiêu thụ thủy sản trung bình hàng năm đạt 17kg/người và nhu cầu tiêu dùng thủy sản sẽ tăng từ mức 120 triệu tấn hiện nay lên ít nhất 220 triệu tấn vào năm 2050, trong đó NTTS dự kiến sẽ cung cấp trên 70% tổng khối lượng cần thiết.
Thực trạng tăng trưởng dân số, mức tiêu dùng và sử dụng các nguồn thực phẩm hiện nay cho thấy tầm quan trọng của NTTS trong sự phát triển của thực phẩm chất lượng cao. NTTS có thể tăng tính ổn định của một nguồn cung cấp protein lớn trong hệ thống cung cấp thực phẩm toàn cầu. Vì thế, để xây dựng một nguồn cung cấp thủy sản bền vững cần phải áp dụng các quy trình NTTS hợp lý.
Nguyên liệu thô và nhiên liệuNhững xu thế trong tương lai cho thấy ngày càng có nhiều loại nguyên liệu với phẩm cấp khác nhau được sử dụng làm thực phẩm cho con người. Do đó, sản xuất thức ăn chăn nuôi phụ thuộc rất nhiều vào các nguyên liệu thô phẩm cấp thấp, gồm cả nông sản phụ vốn có thể được sử dụng hiệu quả hơn bằng cách áp dụng các công nghệ chế biến các nguồn dinh dưỡng cho các loài thủy sản nuôi.
Nguyên liệu với chất lượng và giá thành khác nhau cần được sử dụng với những chiến lược đa dạng khi lập công thức cho các loại thức ăn chăn nuôi và chiến lược chế biến để giúp nhà sản xuất tăng sự linh hoạt trong sử dụng nguồn lợi có sẵn và trong mối quan hệ chi phí – lợi nhuận.
Nuôi thủy sản có thể là một cách để tăng hiệu quả chuyển giao năng lượng và dinh dưỡng từ nguyên liệu vào thịt. Thủy sản nuôi có thể chuyển hóa năng lượng trong thức ăn với hiệu quả cao hơn đáng kể – tỷ lệ chuyển hóa thức ăn giảm 2,5 calo thức ăn/calo thủy sản so với tỷ lệ chuyển hóa thức ăn của các loài vật nuôi trên cạn như bò (7:1), lợn/gia cầm (4:1). Theo triển vọng hiện nay, hiệu quả sử dụng thức ăn và nguyên liệu thức ăn tăng lên có thể là một yếu tố cần thiết để sử dụng tốt và hợp lý hơn nguồn thức ăn trong các hệ thống nuôi.

NTTS đang SX ra những sản phẩm chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu tăng lên do sự bùng nổ dân số trên toàn cầu
Nguồn nướcNTTS có thể đóng vai trò chủ chốt nhằm cải thiện chất lượng thức ăn nhất là khi diện tích trong chăn nuôi trên đất liền rất hạn chế, do đó cần mở rộng và xây dựng những quy trình trách nhiệm có tính khả thi tại hầu hết các quốc gia bằng cách nuôi các loài thủy sản thông thường và kỹ thuật nuôi bình thường.
Nuôi nước ngọt trong ao hay các hình thức khác đã được xác định là một hệ thống sản xuất thức ăn tiết kiệm nước. Nuôi hải sản (động thực vật và biển) có thể được mở rộng tại những vùng ven biển và vùng biển khơi trên toàn thế giới.
Hơn nữa, khả năng khai phá ba chiều của môi trường nước nuôi có thể tăng hiệu quả sử dụng diện tích trong các hệ thống nuôi, qua đó có thể cải thiện an toàn lương thực tại những quốc gia đang thiếu hụt lương thực bằng cách nuôi các loài chi phí thấp trong những hệ thống nuôi đơn giản.
Cơ hội sắp đếnNTTS trong bất cứ hệ thống nuôi nào đều có thể bị tác động trực tiếp hoặc gián tiếp do biến đổi khí hậu, thiên tai mang tính mùa vụ cũng như điều kiện khí hậu lâu dài. Nhận biết hiện tượng biến đổi khí hậu có thể xảy ra trên toàn cầu và những tác động lên môi trường sẽ là một bước quan trọng để hoạch định sự phát triển NTTS trong tương lai.
Lựa chọn loài nuôi, quy trình nuôi, quy mô và quan hệ thị trường có thể cần linh hoạt hơn trong NTTS, tuy nhiên vẫn cần tiếp tục cải thiện quy trình này để tối ưu hóa sản lượng nhằm thích nghi với biến đổi khí hậu, kết hợp với đánh giá tài chính thông qua dự báo các xu thế trong khu vực cũng như toàn cầu.
Những dữ liệu có sẵn trong quy trình NTTS thương mại trong những thời kỳ tương ứng có thể được tập hợp, liên kết với thông số môi trường để kiểm tra các mối quan hệ, xu thế và diễn biến có thể xảy ra. Những nguồn cung cấp ổn định thủy sản nhờ phát triển NTTS có thể được đề xuất trong các hiệp định về biến đổi khí hậu.
TS. Daniel Lemos
Đại học tổng hợp Sao Paulo, Braxin
Ngọc Diệp biên dịch
Global Aquaculture Advocate, T9-10/2011