logovf
  • Thương mại thủy sản
  • Vietfish International
  • WebLinks
User
Password
Register | Forgot password
  • Tin tứcSự kiện bình luậnQuản lý nghề cáDoanh nghiệpThị trường xuất khẩuPhát triển bền vữngCông nghệ thiết bịThủy sản đó đây
    • Thị trường xuất khẩu

    Cung cấp thực phẩm cho thế giới vào năm 2050: Hướng tới NTTS bền vững

    THƯƠNG MẠI THỦY SẢN - Số 145 | Tháng 01/2012

    Dự kiến dân số thế giới sẽ tăng lên 9 tỉ người vào năm 2050, trong đó dân số của những vùng Sub-Sahara ở châu Phi sẽ tăng với cấp số nhân.

    NTTS tiếp tục là ngành SX thực phẩm có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất
    • Story tool
    • E-mail this story
    • Print this story
    Để đáp ứng nhu cầu tăng lên, sản lượng thực phẩm sẽ phải tăng lên 70% so với mức hiện nay. Do đó, cần sử dụng hiệu quả những nguồn dinh dưỡng làm thức ăn cho thủy sản khi NTTS đóng vai trò chủ chốt trong sản xuất thực phẩm trên những khu vực bị hạn chế về diện tích.

    Theo đề xuất của Tổ chức Nông  nghiệp  và  Lương thực Liên hợp quốc (FAO), mỗi cá nhân cần 3.000 kcal/ngày để đảm bảo được cung cấp đầy đủ dinh dưỡng. Trên thực tế, tiêu  dùng dao động từ 2.366 kcal/ngày ở vùng Hạ-Sahara (châu Phi) tới 3.955 kcal/ngày ở các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Tại châu Á, nơi dân số chiếm hơn 50% dân số thế giới - tiêu dùng thực phẩm đạt 2.793 kcal/ngày/người.

    An toàn thực phẩm có nghĩa là thực phẩm được phân bố đều cho các vùng và điều này trở nên đặc biệt quan trọng trong thập kỷ tới, khi tình hình tăng trưởng dân số và phân bổ dân số thay đổi.

    Thực phẩm và nguồn thức ăn

    Viễn cảnh trong tương lai về dân số toàn cầu tăng lên sẽ đòi hỏi phải tăng những nguồn thực phẩm  sẵn  có.  Theo  FAO,  sản lượng thực phẩm chung tới năm 2050 sẽ phải tăng 70% so với hiện nay thông qua mở rộng các lĩnh vực sản xuất và tăng hiệu quả sản xuất trên diện tích nuôi. Những chiến lược này rõ ràng vẫn bị hạn chế vì sự eo hẹp về diện tích và kỹ thuật.

    Mặc dù hiệu quả sản xuất tăng lên ở những vùng như Mỹ La tinh, Trung Đông và Nam Phi, năng suất sản xuất thực phẩm trung bình trên mỗi hecta vẫn ổn định trong 11 năm qua. Để đáp ứng nhu cầu tăng lên đối với thực phẩm, cần phải có những lựa chọn khác để đáp ứng nhu cầu của từng khu vực.Thức ăn chăn nuôi chiếm một phần nhỏ đóng góp vào cán cân thực phẩm chế biến - thực phẩm ăn sẵn. Ước tính gần 50% tổng nguồn lợi thực phẩm được sử dụng để sản xuất thức ăn chăn nuôi và với tốc độ tiêu thụ thịt trên toàn cầu tăng lên, áp lực đối với các nguồn thực phẩm sẽ ảnh hưởng tới các hệ thống nuôi.

    Dự đoán sản lượng thịt hàng năm sẽ tăng lên gấp đôi vào năm 2050 nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và sẽ tiếp tục gây áp lực lên giá ngũ cốc – nguyên liệu để sản xuất thức ăn chăn nuôi. Điều chỉnh theo sự gia tăng dân số tại những quốc gia bị thiếu hụt thực phẩm sẽ đòi hỏi phải sử dụng nguyên liệu thô gần với cấp độ tăng  thực  phẩm,  một  số  loại nguyên liệu này hiện nay được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi. Tiếp theo, khó có thể tăng sản lượng thịt do hiệu quả chuyển đổi thức ăn hạn chế, trung bình tỷ lệ hiệu suất thức ăn dao động từ 7:1 tới 4:1 đối với các nguồn thức ăn thực vật dành cho gia súc, lợn và gia cầm.

    Một  thực  tế  cơ  bản  khác trong  bức  tranh  toàn  cảnh  về các nguồn thực phẩm trên toàn cầu là sự lãng phí dinh dưỡng. Ước tính tới 30% sản lượng thực phẩm trên toàn cầu không được sử dụng cho các mục tiêu dinh dưỡng. Với trung bình 4.800 kcal thực phẩm được sản xuất trong 1 ngày cho 1 người, có tới 600-800 kcal bị mất đi trong quá trình sản xuất, chế biến và phân phối. Tăng hiệu quả trong chuỗi thực phẩm có thể góp phần tạo ra các nguồn cung cấp thực phẩm có giá trị cũng như nguồn thức ăn chăn nuôi cùng với sự gia tăng dân số.những thách thức và

    Cơ hội NTTS bền vững

    Theo FAO, thủy sản là một trong  những  nguồn  cung  cấp protein  động  vật  quan  trọng nhất. Tuy nhiên, trong một thời gian dài phần lớn những nguồn dinh dưỡng chất lượng cao này lại phụ thuộc vào việc khai thác các nguồn lợi tự nhiên. FAO ước tính tiêu thụ thủy sản trung bình hàng năm đạt 17kg/người và nhu cầu tiêu dùng thủy sản sẽ tăng từ mức 120 triệu tấn hiện nay lên ít nhất 220 triệu tấn vào năm 2050, trong đó NTTS dự kiến sẽ cung cấp trên 70% tổng khối lượng cần thiết.

    Thực trạng tăng trưởng dân số, mức tiêu dùng và sử dụng các nguồn thực phẩm hiện nay cho  thấy  tầm  quan  trọng  của NTTS trong sự phát triển của thực phẩm chất lượng cao. NTTS có  thể  tăng  tính  ổn  định  của một nguồn cung cấp protein lớn trong hệ thống cung cấp thực phẩm toàn cầu. Vì thế, để xây dựng một nguồn cung cấp thủy sản bền vững cần phải áp dụng các quy trình NTTS hợp lý.

    Nguyên liệu thô và nhiên liệu

    Những xu thế trong tương lai cho thấy ngày càng có nhiều loại nguyên liệu với phẩm cấp khác nhau được sử dụng làm thực phẩm  cho  con  người.  Do  đó, sản xuất thức ăn chăn nuôi phụ thuộc rất nhiều vào các nguyên liệu thô phẩm cấp thấp, gồm cả nông sản phụ vốn có thể được sử dụng hiệu quả hơn bằng cách áp dụng các công nghệ chế biến các nguồn dinh dưỡng cho các loài thủy sản nuôi.

    Nguyên liệu với chất lượng và giá thành khác nhau cần được sử dụng với những chiến lược đa dạng khi lập công thức cho các loại thức ăn chăn nuôi và chiến lược chế biến để giúp nhà sản xuất tăng sự linh hoạt trong sử dụng nguồn lợi có sẵn và trong mối quan hệ chi phí – lợi nhuận.

    Nuôi thủy sản có thể là một cách để tăng hiệu quả chuyển giao năng lượng và dinh dưỡng từ nguyên liệu vào thịt. Thủy sản nuôi có thể chuyển hóa năng lượng trong thức ăn với hiệu quả cao hơn đáng kể – tỷ lệ chuyển hóa thức ăn giảm 2,5 calo thức ăn/calo thủy sản so với tỷ lệ chuyển hóa thức ăn của các loài vật nuôi trên  cạn  như  bò  (7:1),  lợn/gia cầm (4:1). Theo triển vọng hiện nay, hiệu quả sử dụng thức ăn và nguyên liệu thức ăn tăng lên có thể là một yếu tố cần thiết để sử dụng tốt và hợp lý hơn nguồn thức ăn trong các hệ thống nuôi.

    NTTS đang SX ra những sản phẩm chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu tăng lên do sự bùng nổ dân số trên toàn cầu

    Nguồn nước

    NTTS có thể đóng vai trò chủ chốt nhằm cải thiện chất lượng thức  ăn  nhất  là  khi  diện  tích trong chăn nuôi trên đất liền rất hạn chế, do đó cần mở rộng và xây dựng những quy trình trách nhiệm có tính khả thi tại hầu hết các quốc gia bằng cách nuôi các loài thủy sản thông thường và kỹ thuật nuôi bình thường.

    Nuôi nước ngọt trong ao hay các hình thức khác đã được xác định là một hệ thống sản xuất thức  ăn  tiết  kiệm  nước.  Nuôi hải sản (động thực vật và biển) có thể được mở rộng tại những vùng ven biển và vùng biển khơi trên toàn thế giới.

    Hơn nữa, khả năng khai phá ba chiều của môi trường nước nuôi có thể tăng hiệu quả sử dụng diện tích trong các hệ thống nuôi, qua đó có thể cải thiện an toàn lương thực tại những quốc gia đang thiếu hụt lương thực bằng cách nuôi các loài chi phí thấp trong những hệ thống nuôi đơn giản.

    Cơ hội sắp đến

    NTTS trong bất cứ hệ thống nuôi nào đều có thể bị tác động trực tiếp hoặc gián tiếp do biến đổi khí hậu, thiên tai mang tính mùa vụ cũng như điều kiện khí hậu lâu dài. Nhận biết hiện tượng biến đổi khí hậu có thể xảy ra trên toàn cầu và những tác động lên môi trường sẽ là một bước quan  trọng  để  hoạch  định  sự phát triển NTTS trong tương lai.

    Lựa chọn loài nuôi, quy trình nuôi,  quy  mô  và  quan  hệ  thị trường có thể cần linh hoạt hơn trong NTTS, tuy nhiên vẫn cần tiếp tục cải thiện quy trình này để tối ưu hóa sản lượng nhằm thích nghi với biến đổi khí hậu, kết hợp với đánh giá tài chính thông qua dự báo các xu thế trong khu vực cũng như toàn cầu.

    Những dữ liệu có sẵn trong quy  trình  NTTS  thương  mại trong những thời kỳ tương ứng có thể được tập hợp, liên kết với thông số môi trường để kiểm tra các mối quan hệ, xu thế và diễn biến có thể xảy ra. Những nguồn cung cấp ổn định thủy sản nhờ phát triển NTTS có thể được đề xuất trong các hiệp định về biến đổi khí hậu.
    TS. Daniel Lemos
    Đại học tổng hợp Sao Paulo, Braxin
               Ngọc Diệp biên dịch
               Global Aquaculture Advocate, T9-10/2011


    Ý KIẾN BẠN ĐỌC
    Telex   VNI  
    Name:
    *
    Address:
    Phone:
    Email:
    *
    Content:
    *
    Tin mới
    • Thủy sản Việt Nam ở Boston Seafood show 2012 (21/05)
    • Mỹ: Nhập khẩu tôm tháng 3 giảm nhẹ (16/05)
    • Xuất khẩu sang UAE Quý I/2012 tăng mạnh (16/05)
    • An Giang: Xuất khẩu thủy sản 04 tháng đầu năm tăng 22% về giá trị (15/05)
    • Xuất khẩu mực và bạch tuộc trong quý 1/2012 tăng mạnh 25,4% (10/05)
    Tin đã đăng
    • Đồng Tháp: giá trị xuất khẩu thủy sản đạt 470 triệu USD năm 2011 (06/02)
    • Chilê: Xuất khẩu thủy sản tăng (04/02)
    • Pakistan: Xuất khẩu thủy sản tăng 16,48% trong 6 tháng (03/02)
    • Xuất khẩu cá tra tăng (01/02)
    • Mỹ: Khách hàng mua tôm dự đoán nguồn cung cấp dư thừa (21/01)
  • Trong cùng số
    • THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU
    • Số 145 | Tháng 01/2012
    1. Giá tôm Thái Lan tại Nhật Bản tăng 5% trong tháng
    2. Bạc Liêu: 158 cơ sở thu mua, sơ chế nguyên liệu thủy sản được tập huấn về an toàn thực phẩm
    3. Công ty Hùng Cá đạt giải thưởng "chất lượng vàng thủy sản" lần thứ 2
    Xem bản in | Tải xuống
    • Ấn Độ: Đầu tư 100 triệu USD cho dự án Điezen sinh học từ rong biển
    • Cá tra Đồng Tháp một năm qua
    • Sôi sục mùa yêu dưới biển (kỳ III) Những kẻ si tình dưới biển
    • Tình hình chung ngành thủy sản năm 2011
    • Xuất khẩu cá ngừ vẫn tăng mạnh trong điều kiện kinh tế eo hẹp
    • Xuất khẩu thủy sản Việt Nam 11 tháng đầu năm 2011
    • Xuất khẩu cá ngừ (Mã HS 03 & 16) 11 tháng đầu năm 2011
    • Nhật Bản: Nghiên cứu kỹ thuật tránh đánh bắt cá ngừ non
    • Tây Ban Nha: Đánh giá hiệp định nghề cá EU – Marốc
    • FAQUIMEX: Đi lên từ bờ vực khó khăn
    • Xuất khẩu cá tra (Mã HS 03 & 16) 11 tháng đầu năm 2011
    • Xuất khẩu thủy sản vượt đỉnh 6 tỷ USD
    • Giải quyết tình trạng lao động trẻ em trong ngành thủy sản
    • HTX Thới An Gương sáng cho mô hình liên kết
    • Cắt bớt tầm gửi...
    • Một mô hình phát triển xanh- bền vững ở đồng bằng Sông Cửu Long
    • Xu thế thúc đẩy tiêu dùng thủy sản trên thế giới
    • Vụ kiện đầu tiên của Việt Nam tại WTO- Chuyện chưa kể về những đóng góp thầm lặng
    • Xuất khẩu tôm (Mã HS 03 & 06) 11 tháng đầu năm 2011
    • Ấn Độ: Ngành thức ăn thủy sản phát triển đa dạng
    • Các nhà sản xuất Châu Á lạc quan về năm 2012
    • Na Uy- Eu: Tăng hạn ngạch khai thác cá trích lên gấp đôi
    • Kết quả xuất khẩu thủy sản năm 2011
    • Đóng gói trong khí có kiểm soát (CAP)
    • Máy hút chân không JBt Foodtech XL
    • Bể gom tôm cấp đông iQF 3xtec
    • Xuất khẩu nhuyễn thể hai mảnh vỏ (Mã HS 0307 & 16) 11 tháng đầu năm 2011
    • Tại hội nghị thượng đỉnh Đông Á Bali: Biển Đông được quốc tế hóa
    • ASIA: Nắm bắt kịp thời nhu cầu thay đổi của thị trường
    • Philippin thành lập khu nuôi biển mới
    • Ôxtralia: Bang New South Wales cấm nhập khẩu bào ngư Tasmania
    • Bạc Liêu: Nhiều biện pháp ngăn chặn các hành vi đưa tạp chất vào tôm nguyên liệu
    • Chất lượng và giá thức ăn thủy sản- vấn đề cần lời giải
    • Hàn Quốc: Rà soát hàm lượng dư lượng thuốc thú y
    • Sản phẩm mới năm 2011
    • Cung cấp thực phẩm cho thế giới vào năm 2050: Hướng tới NTTS bền vững
    • 10 Sự kiện nổi bật ngành thủy sản
    • Thương vụ và doanh nghiệp cần phối hợp để đẩy mạnh xuất khẩu
    • Cần tạo ra diện mạo mới cho chế biến thủy sản truyền thống
  • VIETFISH INTERNATIONAL
  • |
  • THƯƠNG MẠI THỦY SẢN
  • |
  • VIETFISH NEWS
Phiên bản điện tử của Tạp chí Thương mại Thuỷ sản & Vietfish International
Hiệp hội Chế biến & Xuất khẩu Thuỷ sản Việt Nam (VASEP)

Giấy phép hoạt động báo chí số 76/GP-BVHTT
Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 20/3/2001
ISSN 1859 – 1175 / ISSN 1859 – 1183
Địa chỉ: 10 Nguyễn Công Hoan, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84.4) 37716175/22174188 / FAX: (+84.4)37710738
Email: thuongmaithuysan@vasep.com.vn / vietfishintel@vasep.com.vn
LIÊN HỆ QUẢNG CÁO Bản quyền của VASEP
Powered by

Địa chỉ: 27A - Lò Đúc - Hai Bà Trưng - Hà Nội