
trứng cá tầm đen là sản phẩm xa xỉ, đắt tiền - Ảnh: internet
Đó là phát biểu của ông Nguyễn Hữu Dũng, phó chủ thịch hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) trong buổi tọa đàm với các doanh nghiệp và cơ quan tại trụ sở UBND huyện Quỳnh Nhai, Sơn La tháng 12/2011.
Phát triển nhanh về lượng
Với đề án nuôi thử nghiệm được Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I khởi động năm 2005 tại Thác Bạc (Sa Pa, Lào Cai) với việc nuôi cá hồi vân và những cố gắng thầm lặng nhưng đầy hoài bão to lớn trong việc ương nuôi giống cá tầm tại nhiều địa phương khắp Bắc-Trung-Nam của Công ty Cổ phần Hàng hải và Dầu khí Việt Xô (Tp Hồ Chí Minh), các đối tượng cá nước lạnh ấy đã nhanh chóng có đuợc thành công bước đầu và trở thành hiện tượng mới của ngành thủy sản. Sản lượng thương phẩm hàng hóa tăng rất nhanh qua từng năm.
Riêng tại Lâm Đồng đã có 35 đơn vị, tổ chức, cá nhân được tỉnh thỏa thuận đầu tư hoặc đã cấp giấy chứng nhận đầu tư phát triển cá nước lạnh với tổng diện tích đăng ký hơn 3.000 ha, tổng vốn đăng ký hơn 1.000 tỷ đồng. Năm 2007 sản lượng đạt 20 tấn, năm 2008 đạt 120 tấn, năm 2009 đạt185 tấn, năm 2010 đạt 335 tấn và dự kiến là 400 tấn năm 2011.
Các tỉnh phía Bắc triển khai muộn hơn, nhưng với thuận lợi về địa hình và khí hậu nên cũng gặt hái những kết quả khả quan. Dự kiến năm 2011 các địa phương Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu… sẽ đạt sản lượng trên dưới 400 tấn. Nhiều DN đã tạo dựng được uy tín và tiếng tăm trong lĩnh vực nuôi cá nước lạnh như Công ty Cổ phần Yangly (Lâm Đồng) - DN hàng đầu về ương giống cá hồi vân, Công ty Hoàng Phố (Lâm Đồng) chuyên nuôi cá hồi vân và cá tầm Nga tại K’Long K’Lanh, hồ Tuyền Lâm, hồ Ða Nhim; hay DN Tư nhân Hoàng Liên Sơn (Lai Châu) - đứng đầu miền Bắc về cá hồi, Công ty CP Cá Tầm Phương Bắc (Thác Bà, Yên Bái) - đơn vị nuôi cá tầm số 1 tại miền Bắc…

Các con suối đầu nguồn khu vực tây nguyên là địa điểm lý tưởng để nuôi cá hồi - Ảnh: Ltđ
Sự phát triển nhanh chóng dẫn đến nhu cầu tìm sự liên kết, hợp tác, chia sẻ thông tin, kinh nghiệm giữa các trang trại. Năm 2009 Hiệp hội Cá nước lạnh Lâm Đồng được thành lập với 21 thành viên, gồm 18 DN, cơ sở trực tiếp đầu tư nuôi trồng và 3 hội viên thuộc các cơ quan nghiên cứu, quản lý nhà nước. Tuy là hiệp hội của Lâm Đồng nhưng lại có khá nhiều hội viên đến từ các tỉnh thành cả nước như Bắc Giang, Yên Bái, Lai Châu, Kon Tum…Theo báo cáo gần đây của Hiệp hội, năm 2010-2011 trong cơ cấu sản lượng cá nước lạnh thì cá tầm chiếm 61%, cá hồi 39%. Lợi nhuận và doanh thu từ cá tầm thương phẩm tăng gấp 2 lần so với cá hồi. Cung luôn luôn không đủ cầu cho thấy tiềm năng to lớn của đối tượng thủy sản này.
Chưa chú trọng tính bền vững
“Rất ấn tượng nhưng còn nhiều bất cập” - đó là ý kiến của ông Kim Văn Tiêu, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư Quốc gia về quá trình phát triển của nghề nuôi cá nước lạnh tại Việt Nam.
Thiếu qui hoạch phát triển là vấn đề “muôn thủa” của bài toán làm kinh tế ở Việt Nam. Trong lúc hầu hết các tỉnh chưa có chủ trương cụ thể, rõ ràng thì các DN, chủ trang trại mạnh ai nấy làm. Qua khảo sát của Hiệp hội Cá nước lạnh, rất nhiều DN đầu tư theo kiểu “làm đến đâu tính đến đó” dẫn đến tổ chức thiếu chuyên nghiệp, hạch toán chi phí bất cập, cán bộ chuyên môn mỏng…Do đó chất lượng, giá thành sản phẩm mỗi trang trại mỗi khác, hình thức tiêu thụ manh mún, nhỏ lẻ.

Hồ thủy điện Sơn La có tiềm năng cực lớn để phát triển cá tầm theo qui mô công nghiệp - Ảnh: Ltđ
Đã có dấu hiệu mất cân đối giữa số lượng cá giống và diện tích trang trại nuôi. Từ thời điềm con giống phải “mua như xin”, đến nay các trang trại ồ ạt ương nuôi cá hồi giống tung ra thị trường. Theo một số liệu thống kê chưa chính thức, sản lượng cá thương phẩm của Lâm Đồng chỉ đạt tối đa 500 tấn/năm, nhưng lượng cá giống cung cấp về địa bàn này tương ứng 1.000 tấn/năm. Nếu không có sự điều tiết kịp thời, trong thời gian tới các DN cung ứng giống sẽ phải đối mặt với thực tế cung vượt quá cầu, chưa kể cạnh tranh quyết liệt sẽ khiến chất lượng con giống không đảm bảo.
Cá nước lạnh thương phẩm vẫn đang chủ yếu tiêu thụ tại thị trường nội địa. Giá thành sản phẩm khá cao do vốn đầu tư và các chi phí ban đầu như con giống, thức ăn… cũng cao tương ứng. Ước tính 1 ha mặt nước nuôi cá nước lạnh chi phí khoảng 20 tỷ đồng, thức ăn đang phải NK từ Pháp, Phần Lan. Nếu không có phương án để giảm giá thành, sản phẩm cá nước lạnh chỉ phục vụ được người tiêu dùng có thu nhập cao. Và như vậy thị trường nội địa khó phát triển được như kỳ vọng của những nhà hoạch định chính sách.
Hướng phát triển theo qui mô công nghiệp
Theo mục tiêu mà Bộ NN&PTNT đề ra, đến năm 2015, tổng sản lượng cá nước lạnh đạt 1.500 tấn/năm, tăng gần gấp đôi hiện nay, trong đó cá tầm 1.000 tấn, cá hồi 500 tấn; đồng thời sẽ phát triển công nghiệp chế biến cá nước lạnh, xây dựng nhà máy chế biến có qui mô 2.000 tấn/năm.
Liên tiếp trong năm 2011, nhiều dự án lớn đã được triển khai. Đó là dự án của Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 3 đầu tư xây dựng Trung tâm Nghiên cứu Sản xuất các Giống cá nước lạnh tại Lâm Ðồng với kinh phí hơn 15 tỷ đồng; dự án của Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư Quốc gia giai đoại 2011 - 2013 xây dựng mô hình nuôi cá hồi tại tỉnh Lào Cai, Lâm Đồng và nuôi cá tầm tại tỉnh Thái Nguyên, Đắk Lắk với tổng kinh phí trên 4 tỷ đồng; dự án nuôi cá tầm tại Đắc Lắc của Tập đoàn Cá tầm Việt Nam với tổng vốn đầu tư dự kiến 1.000 tỷ đồng.... Gần đây nhất, Hiệp hội VASEP đã tổ chức thăm dò và vận động để khởi động đề án nuôi cá tầm qui mô lớn, công nghệ hiện đại tại các hồ thủy điện tại Tây Bắc, trước hết là hồ Sơn La.
Để đạt được mục tiêu mà Bộ NN&PTNT đưa ra, chính quyền cấp tỉnh cần phải xây dựng qui hoach cụ thể, để có chủ trương, chính sách phù hợp năng lực và điều kiện thực tế của địa phương mình. Hiện tại mới chỉ có Lâm Đồng thông qua qui hoạch phát triển cá nước lạnh đến năm 2020, trong khi đối tượng cá nước lạnh đã phát triển mạnh tại các tỉnh Tây Bắc, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên chưa có qui hoạch. Về phía Bộ NN&PTNT cần phải có định hướng và quản lý sát sao các đơn vị sản xuất giống, tránh tình trạng cung ứng và phát triển giống mất cân đối, con giống NK tràn lan theo đường tiểu ngạch dẫn đến chất lượng kém, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản lượng thương phẩm.
Phát triển nuôi cá nước lạnh ở qui mô công nghiệp phải gắn liền với qui trình, công nghệ tiến tiến. “Công nghệ hiện đại là mắt xích quan trọng không thể thiếu trong qui trình phát triển bền vững”- PGS.TS. Nguyễn Hữu Dũng, Phó Chủ tịch Hiệp hội VASEP khẳng định. Ông Dũng nêu thí dụ điển hình tiên tiến nhất nuôi cá lồng bè khép kín như tại các hồ ở Thụy Sĩ, có hệ thống thu gom toàn bộ chất thải nuôi cá, sau đó xử lý thành các chế phẩm sinh học sử dụng vào các mục đích khác nhau.
Trong các điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội hiện nay của hồ thủy điện Sơn La và các hồ chứa khác, ông đề xuất công nghệ chuỗi sản xuất nhiều khâu (trồng cây và trồng cỏ - nuôi đại gia súc - lấy phân nuôi giun đỏ giàu đạm - nuôi trồng thủy sản - chế biến - XK) phù hợp với điều kiện thực tế của vùng dân tộc ít người, trong đó nuôi cá tầm nhằm lấy thịt để hun khói và trứng cá đen phục vụ XK là khâu trung tâm đột phá.

Các món ăn tái, sống chế biến từ cá tầm được nhiều người ưa chuộng Ảnh: internet
PGS.TS. Nguyễn Hữu Dũng nêu rõ: “Để phát triển nuôi cá theo phương thức công nghiệp cần giải quyết tốt ít nhất 6 khâu cơ bản. Thứ nhất là sản xuất giống chất lượng tốt và cung ứng đầy đủ cho dân. Thứ hai là tổ chức sản xuất và cung ứng các hệ thống lồng bè thích hợp với đối tượng nuôi và có phương thức hỗ trợ tài chính để dân trả dần vốn nuôi hoặc thuê bè. Thứ ba là tổ chức sản xuất thức ăn viên tại chỗ, với thành phần chất bột là ngô, khoai, sắn tại địa phương, còn đạm là bột giun đỏ kết hợp bột cá. Thứ tư là tổ chức hệ thống dịch vụ cho dân về hướng dẫn chăm sóc và phòng trị dịch bệnh cho cá. Thứ năm là DN phải ký hợp đồng tiêu thụ cá thành phẩm với giá bảo đảm có lãi cho dân ngay từ trước khi thả nuôi. Thứ sáu là tổ chức các hệ thống cơ sở sơ chế, chế biến, đóng gói, vận chuyển phân phối cá thành phẩm hữu hiệu tại địa phương. Vai trò chủ đaọ trong việc thực hiện 6 khâu này phải là các DN chuyên môn. Còn chính quyền địa phương các cấp cần làm tốt khâu quy hoạch, đào tạo nhân lực, hỗ trợ hình thành các hội hiệp hội chuyên ngành và có cơ chế chính sách hỗ trợ tài chính cho các dự án đầu tư”.
Bên cạnh đó, điều kiện cần thiết là việc áp dụng các tiêu chuẩn HACCP, VietGAP sẽ có tác dụng kiểm soát dịch bệnh, đáp ứng các tiêu chuẩn VSATTP quốc tế, làm cơ sở cho hoạt động XK trong tương lai …
Theo các chuyên gia trong và ngoài nước, nếu biết khẩn trương áp dụng ngay từ đầu và trên qui mô mở rộng các công nghệ tiên tiến, hiện đại của thế giới vào điều kiện thực tế, thì mục tiêu nuôi cá nước lạnh qui mô công nghiệp của Việt Nam có rất nhiều khả năng trở thành hiện thực, mở ra một lĩnh vực mới đây triển vọng cho sản xuất thủy sản ở vùng Tây Nguyên và Tây Bắc của nước ta.
Lê Thế Đồng