• Đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và thử nghiệm kích thích sinh sản nhân tạo cá chạch sông được tiến hành nhằm nghiên cứu bổ sung một số đặc điểm sinh học; đặc điểm thành thục sinh dục; và thử nghiệm sinh sản nhân tạo cá chạch sông.

    Cá chạch sông - Macrognathus aculeatus (Bloch 1786) - chủ yếu ăn động vật ở đáy thủy vực; tuyến sinh dục Phát triển Qua 6 giai đoạn; buồng trứng có nhiều tế bào trứng ở nhiều giai đoạn khác nhau; sức sinh sản tuyệt đối 1.000 –3.000 trứng/cá cái, sức sinh sản tương đối 40.000 – 140.000 trứng/1kg cá cái; có thể gây rụng trứng bằng kích thích tố là LHRH-a + Dom khi tuyến sinh Dục đã ở trạng thái sẵn sàng sinh sản

    Phương pháp nghiên cứu

    Đặc diểm dinh dưỡng

    Dựa vào hình thái cấu tạo của bộ máy tiêu hóa kết hợp với phân tích thức ăn trong ống tiêu hóa theo phương pháp tần số xuất hiện (TSXH) và phương pháp thể tích để xác định thức ăn của cá.

    Đặc điểm thành thục sinh dục (TSD)

    Hệ số thành thục (HSTT) được xác định theo công thức
    Sức sinh sản tuyệt đối được xác định theo công thức
    Trong đó: G: Trọng lượng buồng trứng (g)
    g: Trọng lượng mẫu trứng được lấy ra để đếm (g)
    n: Số trứng của mẫu được lấy ra để đếm (hạt)

    Sức sinh sản tương đối
    Tính tỉ lệ thành thục ở các giai đoạn thành thục khác nhau qua các tháng thu mẫu
    Thử nghiệm sinh sản nhân tạo

     Kích thích tố LHRH_a được dùng để gây rụng trứng cá với liều lượng 200 mg LHRH¬_a + 10 mg DOM/2kg cá cái và liều dẫn là não thùy (0,3 mg/kg cá cái). Một số chỉ tiêu theo dõi gồm:
    Xử lý số liệu

    Các số trung bình, độ lệch chuẩn, biểu đồ sử dụng phần mềm Microsoft Excel 2003 để xử lý. So sánh thống kê sử dụng phần mềm SPSS 13.0 để xử lý.

    Kết quả và thảo luận

    Đặc diểm dinh dưỡng


    Bảng 1 cho thấy thức ăn là giáp xác chiếm tỷ lệ cao nhất (55,8%), kế đến là mùn bã hữu cơ (24,2%), nhưng qua sát đặc điểm cơ quan tiêu hóa cho thấy mùn bã hữu cơ không phải là thức ăn thích hợp. Có thể mùn bã hữu cơ có trong ống tiêu hóa của cá là do cá ăn vào cùng với các lọai thức ăn ở đáy như giun, tảo đáy. Bên cạnh đó, cá con cũng chiếm tỷ lệ lớn trong phổ thức ăn (14,3%) do cá con có thể tích rất lớn mặc dù tần số xuất hiện là rất thấp.

    Như vậy, thức ăn là động vật chiếm tới 70,6%. Các loại khác là 29,4%, chứng tỏ động vật là thức ăn ưa thích của cá chạch sông. Kết quả này phù hợp với đặc điểm cấu tạo của cơ quan tiêu hóa cá chạch sông. Từ kết quả phân tích thức ăn và hình thái giải phẩu có thể nhận định cá chạch sông là loài cá ăn động vật và ăn chủ yếu ở đáy thủy vực.

    Đặc điểm thành thục sinh dục


    Bảng 2 cho thấy, theo thứ tự từ tháng 1 đến tháng 5, HSTT của cá tăng theo giai đoạn thành thục và khối lượng tuyến sinh dục. Đến tháng 4 và 5 thì tỷ lệ cá ở giai đoạn 3 và 4 là rất cao và TSD cá thuộc giai đoạn IV dao động từ 13,3-57,2. Đồng thời ở tháng 5 đã bắt gặp một số cá cái có TSD ở giai đoạn V với tỷ lệ 14,3%. Từ kết quả  nghiên cứu về sự biến động HSTT, tỷ lệ thành thục cho thấy mùa vụ sinh sản của cá chạch sông bắt đầu từ tháng 4-5 hằng năm.

    Sức sinh sản

    Sức sinh sản của cá tăng tỷ lệ thuận với khối lượng cá. Nhưng ở nhóm cá có khối lượng từ 30 – 36g thì sức sinh sản giảm đáng kể. Sức sinh sản tuyệt đối khác biệt có ý nghĩa thống kê (p <0,05) giữa các nhóm 1, 2 và 3 (Bảng 3). Do đó, sức sinh sản của cá tăng theo khối lượng cá nhưng chỉ tăng khi cơ thể đạt đến khối lượng nhất định nào đó thì không tăng nữa.

    Kích thích sinh sản

    Kết quả nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh sản được trình bày thành bảng dưới đây.Theo bảng 4, tỉ lệ cá đẻ ở đợt thứ nhất là rất thấp. Đến đợt thứ 2 vào giữa tháng 4 thì tỉ lệ cá đẻ đã tăng rõ rệt và đến tháng 5 thì tỉ lệ cá đẻ tăng lên



    rất cao là 81,8%. Tương tự từ kết quả trên cho thấy sức sinh sản tương đối thực tế của cá cũng tăng từ đợt 1 đến đợt 3 và tỉ lệ thụ tinh rất cao ở cả 3 đợt cho sinh sản, nhưng tỉ lệ nở lại thấp.

    Quá trình phát triển phôi

    Quá trình phát triển phôi của cá chạch sông kéo dài từ 32-42 giờ ở nhiệt độ ấp là 28–290C. So với hầu hết các loài cá ở ĐBSCL thì thời gian phát triển phôi của cá chạch sông là cao nhất. Tuy nhiên, so với cá chạch bông, thời gian phát triển phôi của cá chạch sông ngắn hơn. Đối với cá chạch bông, sau 96 giờ tế bào trứng mới thấy rõ mắt và đầu (Ngô Trọng Lư, 2002).

    Kết luận

    Về đặc điểm dinh dưỡng

     Kết quả phân tích thức ăn và hình thái giải phẩu có thể nhận định cá chạch sông là loài cá ăn động vật và ăn chủ yếu ở đáy thủy vực.

    Về đặc điểm thành thục sinh dục

    Tuyến sinh dục của cá chạch sông có quá trình phát triển tương tự như nhiều loài cá khác, tức là



    cũng trải qua 6 giai đoạn. Về tổ chức học, buồng trứng cá chạch sông có nhiều tế bào trứng ở nhiều giai đoạn khác nhau. Sức sinh sản tuyệt đối: 1.000 – 3.000 trứng/1cá cái. Sức sinh sản tương đối: 40.000 – 140.000 trứng/1kg cá cái.

    Về kết quả thử nghiệm kích thích sinh sản nhân tạo

    Có thể gây rụng trứng cá chạch sông bằng kích thích tố là LHRH-a + DOM khi TSD đã ở trạng thái sẵn sàng sinh  sản  và  sức  sinh  sản tương đối thực tế là: 26.700-37.800 trứng/1kg cá cái. Tỉ lệ thụ tinh: 94%, tỉ lệ nở: 37.9%, thời gian ấp trứng: 38 – 42 giờ, thời gian cá hết noãn hoàng: 3 ngày.
     Nguyễn Thành Tâm, Trần Ngọc Huyền, Nguyễn Văn Bá
    Khoa Sinh học ứng dụng-trường Đại học Tây Đô


    Ý KIẾN BẠN ĐỌC
    Telex   VNI  
    Name:
    *
    Address:
    Phone:
    Email:
    *
    Content:
    *