Tiến sỹ Philippe Serene thuyết trình tại hội nghị “Nâng cao chất lượng thức ăn cá tra/basa hướng đến hội nhập kinh tế và phát triển bền vững” do Wilmar Agro VN tổ chức tai Long Xuyên vào ngày 04/11/2011
Đó là phát biểu của TS Philippe Serene – chuyên gia dinh dưỡng tại hội thảo “Nâng cao chất lượng thức ăn cá tra/basa hướng đến hội nhập kinh tế và phát triển bền vững” do công ty Wilmar Agro Việt Nam tổ chức tại Long Xuyên ngày 04/11/2011.
Theo ông, mặc dù nghiên cứu và phát triển (R&D) có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và liên quan mật thiết với tất cả các khâu trong chuỗi giá trị, nhưng hiện nay công tác này chưa được đầu tư đúng mức, thậm chí còn nhiều lĩnh vực bị bỏ ngỏ. Nguyên nhân của tình trạng này nhiều khi không đơn thuần do bị giới hạn về nguồn lực tài chính hay trình độ khoa học kỹ thuật, mà còn có nguyên nhân chủ quan là nhận thức không đầy đủ của hệ thống quản lý.
Nếu so sánh Việt Nam với một số nước có nhiều tiềm năng NTTS trong khu vực như Campuchia, Philippin, Inđônêxia, Trung Quốc hay Ấn Độ, có thể nói ngành cá tra Việt Nam có lợi thế “độc nhất vô nhị”. Ở các nước đó, ngành nuôi cá da trơn nói chung, trong đó có cá tra, chủ yếu chỉ để phục vụ nhu cầu tiêu dùng nội địa. Việc phát triển nuôi cá tra của họ còn gặp vô vàn khó khăn. Do đó, nếu được quan tâm đầu tư nghiên cứu phát triển để phát huy đúng mức những lợi thế của mình, ngành công nghiệp cá tra Việt Nam còn có thể tiến rất xa.
Trong rất nhiều lĩnh vực cần quan tâm, TS Philippe Serene cho rằng, những vấn đề R&D sau đây nên được tập trung đầu tư càng sớm càng tốt.
Nghiên cứu sinh sản, cải thiện di truyềnHiện nay, cá tra có hai quần thể hoàn toàn thuần chủng phân bố ở Lào và đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Đây là điều kiện thuận lợi để bảo tồn nguồn gen thuần vô cùng quí giá làm nguyên liệu cho công tác nghiên cứu sinh sản và di truyền, nhằm cải thiện chất lượng con giống, nâng cao tính trạng sinh trưởng, tăng khả năng chống chọi với dịch bệnh... Nhưng trong thực tế, đàn cá bố mẹ ở các cơ sở sản xuất giống lại đã và đang bị suy thoái nhanh chóng, dẫn đến tình trạng lai gần, lai cận huyết, chất lượng cá giống ngày càng thấp, tốc độ tăng trưởng và khả năng kháng bệnh ngày càng suy giảm.

Các diễn giả tại hội nghị: từ trái qua phải Tiến sỹ Lê Thanh Hùng – Trưởng khoa Thủy Sản, ĐH Nông Lâm TP.HCM, Ông Lee Swee Heng – Tổng GĐ Wilmar Agro VN, Tiến Sỹ Philippe Serene – Chuyên gia dinh dưỡng thủy sản
Bên cạnh đó, việc quản lý hoạt động sản xuất giống cá tra hầu như bị bỏ ngỏ nên xuất hiện nhiều yếu tố tiêu cực, cả về trình độ kỹ thuật, ý thức tuân thủ quy trình sản xuất, cho đến quy hoạch sản xuất, bảo đảm an toàn dịch bệnh và môi trường.
TS Philippe dẫn chứng: “Ở thượng nguồn khi sông vào Việt Nam, trại sản xuất cá tra giống như nấm, qui mô nhỏ lẻ, nằm san sát nhau. Nhiều trại sử dụng chung một nguồn nước, nhưng việc quản lý, phòng ngừa dịch bệnh lại bị bỏ ngỏ, dịch bệnh tràn lan. Khi một trang trại bị nhiễm bệnh là cả khu vực bị ảnh hưởng”.
Theo kết quả điều tra của Viện nghiên cứu NTTS 2, các cơ sở sản xuất cá tra bột rất ít quan tâm nguồn gốc đàn cá bố mẹ và chất lượng của chúng. Có tới 57,4% cá tra bố mẹ có nguồn gốc từ cá nuôi thương phẩm. Thậm chí, con giống của đàn cá bố mẹ này khi nuôi lớn lại dùng làm cá bố mẹ để tiếp tục sản sinh ra những thế hệ cá giống mới với chất lượng càng thấp hơn. Đây là vòng xoáy xuống dốc mà ngành cá tra Việt Nam đang phải đối mặt.
Bộ NN&PTNT đã phần nào nhận thấy vấn đề và đã cho thực hiện dự án “Chuyển giao công nghệ sản xuất giống cá tra có chất lượng di truyền cao về tính trạng tăng trưởng cho các tỉnh ĐBSCL”, song việc thực hiện gặp nhiều vướng mắc và tiến độ triển khai rất chậm.
Đây cũng là một trong những vấn đề rất cần quan tâm thúc đẩy.
Nghiên cứu dinh dưỡng và thức ăn cho cáTừ một vài nhà máy sản xuất nhỏ lẻ với sản lượng khoảng 200.000 tấn trong những năm 1990, đến nay Việt Nam đã có tới hàng trăm nhà máy của các hãng sản xuất thức ăn thủy sản nổi tiếng thế giới và một số nhà đầu tư trong nước, với sản lượng hằng năm lên đến 2-3 triệu tấn. Những năm 2005-2006 là giai đoạn phát triển nhanh nhất của ngành công nghiệp sản xuất thức ăn thủy sản. Hiện nay, ngành công nghiệp này đang trong giai đoạn tái cấu trúc, có dấu hiệu phục hồi sau thời kỳ đi xuống cùng với sự thăng trầm của ngành nuôi cá tra 2008-2010 do suy thoái kinh tế, một số DN đã phải đóng cửa.
Hiện nay, các nhà máy chế biến thức ăn thủy sản chỉ sử dụng được khoảng 60% công suất thiết kế, 40% còn lại là sự lãng phí rất lớn, nhưng cũng có thể coi đó là một tiềm năng. TS Võ Hùng Dũng, Giám đốc VCCI Cần Thơ, cho biết: “Phải mất 3 đến 4 năm nữa mới ’tiêu hóa’ hết 40% công suất này. Do đó trong ngắn hạn chúng ta không cần đầu tư thêm nhà máy, mà vấn đề cần quan tâm chính là đổi mới công nghệ sản xuất”.
TS Philippe Serene cho rằng: “Việt Nam đang phải đối mặt với những khó khăn trong sản xuất thức ăn cho cá, mà điển hình là công nghệ không hợp lý, gây thất thoát, lãng phí, tốn kém”. Đơn cử trong công nghệ sấy, hầu hết nhà máy chế biến thức ăn vẫn sử dụng công nghệ sấy ngang, gây hao phí nhiều năng lượng. Trong khi đó, chỉ cần sử dụng công nghệ sấy tháp đã có thể tiết kiệm tới 10-15% năng lượng.
Thành quả nghiên cứu về công nghệ sản xuất thức ăn thủy sản ở Việt Nam khá nghèo nàn. Ngoài các đề tài nghiên cứu với quy mô nhỏ, các viện, trường chưa đưa ra kết quả nghiên cứu nào thành quy trình công nghệ hoàn chỉnh để phổ biến áp dụng đại trà vào sản xuất, đặc biệt trong lĩnh vực chế biến thức ăn cho cá bột.
Từ 1995 đến 1998, cá bột chủ yếu được cho ăn thức ăn tươi như sinh vật phù du, trứng gà, cá tạp băm nhỏ,… Đến những năm 2000-2007, các nhà sản xuất thức ăn công nghiệp vẫn chủ yếu sản xuất thức ăn nuôi cá thịt với hàm lượng protein 22-28%, còn thức ăn cho cá con vẫn bị bỏ ngỏ. Chỉ vài năm gần đây mới bắt đầu xuất hiện thức ăn cho cá giống với hàm lượng đạm 35-45%.
Một trong những hoạt động có ý nghĩa thiết thực trong lĩnh vực thức ăn thủy sản là nghiên cứu về ảnh hưởng của cám gạo ôxy hóa dầu lên khả năng tiêu hóa và chức năng gan của cá (bệnh gan vàng, tác động đến hệ thống miễn dịch của cá – giảm khả năng sinh bạch cầu), bắt đầu từ năm 1996.
Cám gạo chiếm khoảng 30% nguyên liệu sản xuất thức ăn và được xác định là thành phần dễ bị suy giảm chất lượng nhất trong quá trình bảo quản. Trong giai đoạn 2002-2005, công ty Calofic/Wilmar Agro Việt Nam kết hợp với trường Đại học Cần Thơ đã nghiên cứu và cho ra đời sản phẩm Cám Vàng (cám gạo trích ly dầu, xử lý ổn định chất lượng, loại trừ các tác nhân oxy hóa). Tuy nhiên, đến nay một số DN chế biến thức ăn vẫn còn sử dụng cám gạo ôi dầu làm nguyên liệu sản xuất.
Qua hơn 10 năm, các nghiên cứu hầu như chỉ nhằm làm sao để có thức ăn với giá trị dinh dưỡng cao hơn. Đến nay, hướng nghiên cứu này có vẻ đã chạm ngưỡng, chỉ đem lại vài cải tiến nhỏ. Từ thời điểm này, nên có cách tiếp cận tốt hơn, tập trung nhiều hơn đến các chức năng sinh lý của cá, như tiêu hóa, cải thiện chức năng gan, tăng cường hệ miễn dịch, v.v...
Chương trình sức khỏe cá nuôiCác biện pháp thâm canh luôn có tác động xấu đến môi trường, gây ảnh hưởng bất lợi cho sức khỏe cá, làm tăng tỷ lệ cá chết, giảm hiệu quả sản xuất. Trong thực hành nuôi cá, việc xây dựng và áp dụng các chương trình an toàn sinh học còn rất hạn chế; trong khi đó các biện pháp điều trị bằng kháng sinh, hóa dược thường bị các nhà NK và khách hàng nước ngoài phản đối.
Gần đây, đã có một số kết quả tích cực trong nghiên cứu vácxin phòng một số loại bệnh cho cá tra do Intervet, Phamaq, ... phát triển. Tuy nhiên, còn cần có thêm nhiều nghiên cứu hơn nữa trong lĩnh vực này.
Bên cạnh đó, cần thay đổi một số tập quán trong sản xuất có ảnh hưởng đến năng suất và hiệu quả nuôi, chẳng hạn cho cá ăn tập trung vào từng thời điểm mà không chia nhỏ làm nhiều lần, khiến cho cá không ăn hết thức ăn, tiêu hóa kém, làm tăng hệ số thức ăn đồng thời gây ô nhiễm môi trường nước, ảnh hưởng đến sức khỏe cá nuôi. Ngay cả công nghệ thu hoạch cũng nên thay đổi, không để kéo dài thời gian thu hoạch hết cá trong từng ao nuôi lên đến 3-4 ngày, ảnh hưởng xấu đến chất lượng và tỷ lệ phi lê, …
Đỗ Văn Thông