logovf
  • Thương mại thủy sản
  • Vietfish International
  • WebLinks
User
Password
Register | Forgot password
  • Tin tứcSự kiện bình luậnQuản lý nghề cáDoanh nghiệpThị trường xuất khẩuPhát triển bền vữngCông nghệ thiết bịThủy sản đó đây
    • Phát triển bền vững

    Đánh giá nguy cơ dịch bệnh: Công cụ hữu hiệu giảm thiểu thua lỗ trong NTTS

    THƯƠNG MẠI THỦY SẢN - Số 144 | Tháng 12/2011

    Đánh giá nguy cơ cho phép các cơ sở ntts dự báo khả năng bùng phát dịch bệnh để ngăn chặn tình trạng thua lỗ và cũng giúp xác định những yếu kém của hệ thống sản xuất.

    Tôm thường bị virus đốm trắng khi trời lạnh
    • Story tool
    • E-mail this story
    • Print this story
    Giảm thiểu dịch bệnh và ảnh  hưởng  của  nó  là mục tiêu chính  trong chiến  lược  quản  lý  nguy  cơ. Trong chiến lược này, việc đánh giá nguy cơ không chỉ bó hẹp trong khuôn khổ xem xét tình trạng sức khỏe vật nuôi ở trại nuôi và vùng lân cận, cũng như kiến thức của nhân viên trại nuôi về vấn đề này, mà còn cả tính pháp lý, khả năng chẩn đoán, phương pháp quản lý vệ sinh và an toàn sinh học.

    Tình trạng sức khỏe của vật nuôi

    Tình trạng sức khỏe của vật nuôi tại thời điểm mua bảo hiểm hoặc thay đổi chế độ bảo hiểm có vai trò rất quan trọng, nhưng bệnh án của chúng trong 2 năm trước đó còn quan trọng hơn. Bệnh dịch có thể thay đổi theo mùa.

    Một số mầm bệnh như virut hội  chứng  đốm  trắng  có  thể gây bệnh cho tôm khi thời tiết trở lạnh. Trong khi đó, thời tiết ấm áp lại khiến mầm bệnh liên cầu khuẩn phát triển, có thể gây bệnh cho các loài thủy sản khác nhau. Mầm bệnh có hai loại: sơ cấp và thứ cấp. Mầm bệnh sơ cấp là mầm bệnh trực tiếp gây bệnh, còn  mầm  bệnh  thứ  cấp  (còn gọi là mầm bệnh “cơ hội”) cần những yếu tố phối hợp như các điều kiện môi trường kém hoặc tác động của một mầm bệnh sơ cấp để gây bệnh.

    Nếu trong 2 năm không phát hiện thấy dịch bệnh thì có thể xem là không có dịch bệnh hoặc dịch bệnh đã được loại bỏ. Nếu là dịch bệnh do các mầm bệnh cơ hội gây ra, cần tìm hiểu nguyên nhân ban đầu, thông thường là do công tác quản lý vệ sinh kém đối với vật nuôi. Một khi các điều kiện trên được cải thiện thì sẽ giải quyết được vấn đề dịch bệnh.

    Mỗi mầm bệnh gây ra những tác động khác nhau vì thế cần có những tác động phù hợp để chống lại dịch bệnh. Triệu chứng của mỗi mầm bệnh cũng khác nhau về mức độ nghiêm trọng như tỉ lệ chết và cách thức lây lan (đặc biệt là theo chuỗi), khả năng miễn dịch, khả năng chữa trị hoặc vắcxin. Vì vậy, việc tìm ra mầm bệnh cụ thể trong một cơ sở nuôi cần phải được đánh giá về độ rủi ro đối với sản xuất.

    Khung pháp lý

    Pháp chế của một quốc gia được xây dựng phù hợp có thể ngăn chặn sự thâm nhập và lây lan các mầm bệnh trong nước. Chỉ  thị  2006/88/EC  của  Liên minh Châu Âu có hiệu lực năm 2008 mang đến một khung pháp lý hoàn thiện nhất để bảo vệ ngành NTTS.

    Mặc quy định pháp lý phù hợp là quan trọng, nhưng cách thức thực hiện chúng mới quyết định thành công. Quy trình thực thi pháp luật giữa các nước khá khác  nhau;  đặc  biệt  ở  những nước đang phát triển, nơi tập trung hầu hết sản lượng thủy sản của thế giới – có thể đang thiếu các sáng kiến cho quá trình thực thi. Để ngăn chặn dịch bệnh và giám sát pháp luật hiệu quả cần phải tính đến 4 vấn đề sau:

    - Phải kiểm soát việc NK thủy sản sống, vì việc vận chuyển thủy sản sống là cách để mầm bệnh thâm  nhập  dễ  dàng  nhất.  Rõ ràng, vật nuôi khỏe mạnh cũng vẫn có thể mang mầm bệnh có khả năng lây lan sang các quần thể khác.

    - Phải xử lý khí thải và chất thải từ các nhà máy chế biến thủy sản để tránh phát tán mầm bệnh vào môi trường và gây tái nhiễm sau đó đối với vật nuôi.

    - Cần thông báo khi dịch bệnh bùng phát và phải cách ly các cơ sở bị nhiễm để tránh tình trạng mầm bệnh lan rộng, giảm thiểu thua lỗ; làm càng sớm càng dễ tránh bệnh lây lan.

    - Phòng Kiểm nghiệm Quốc gia có thể hỗ trợ các phòng kiểm nghiệm tư nhân về chất lượng kiểm nghiệm và kết quả; cần cập nhật thường xuyên về các bệnh nghiêm trọng.

    Các cơ quan phụ trách thủy sản cần am hiểu về tình trạng dịch bệnh của một nước hoặc cả khu vực, bởi vì mầm bệnh không phân biệt biên giới. Sự lây lan dịch bệnh từ nơi này sang nơi khác chỉ là vấn đề thời gian. Nguy cơ lây lan dịch bệnh phụ thuộc vào loại mầm bệnh và cách thức lây lan.

    Các chương trình chứng nhận

    Một số chương trình chứng nhận giải quyết các vấn đề các tiêu chuẩn sản xuất và chất lượng sản phẩm. Các chương trình sản xuất như Thực hành Nuôi trồng Thủy sản Tối ưu (BAP), GlobalG.A.P, Quỹ Bảo vệ Thiên nhiên thế giới (WWF),... chủ yếu giải quyết các vấn đề phát triển bền vững và tác động môi trường và xã hội.Chương  trình  sản  phẩm chất lượng, chẳng hạn như của Naturland hoặc Quỹ Nuôi trồng Thủy sản Sinh thái Quốc tế chủ yếu  quan  tâm  đến  nhãn  hiệu sinh thái, trong khi các sản phẩm cho người sành ăn có các chương trình như Label Đỏ ở Pháp và Vương quốc Anh.

    Việc triển khai các biện pháp quản  lý  tốt  nhất  trong  nông nghiệp được công nhận có thể mang lại những cải tiến đáng kể trong sản xuất, giảm sự bùng phát dịch bệnh nhờ các tác nhân gây bệnh thứ cấp và chất lượng sản phẩm tăng.

    Tuy nhiên, hiện nay chưa có chương trình chứng nhận nào chuyên  về  phòng  chống  dịch bệnh, vì vậy việc áp dụng các chương trình chứng nhận không có nghĩa chắc chắn sẽ giảm hoặc giảm  thiểu  thiệt  hại  của  dịch bệnh do mầm bệnh sơ cấp gây ra.

    Khả năng chẩn đoán dịch bệnh

    Khả  năng  chẩn  đoán  dịch bệnh của một cơ sở nuôi có vai trò quan trọng để nhanh chóng phát hiện dịch bệnh. Tùy theo mục đích xét nghiệm mà ứng dụng những phương pháp xét nghiệm có độ nhạy và độ đặc hiệu khác nhau. Khi dịch bệnh bùng phát, cần sử dụng xét nghiệm có độ nhạy thấp như xét nghiệm về mô học để xác định những tổn thương mà mỗi mầm bệnh gây ra. Nếu sàng lọc hoặc tìm kiếm mầm  bệnh  khi  không  có  dấu hiệu lâm sàng thì cần phương pháp có độ nhạy cao hơn.

    Việc đánh giá chất lượng các phòng thí nghiệm và quy trình chẩn đoán rất quan trọng và các tiêu chuẩn như EN ISO/IEC, EN 45002 hoặc EN 45003 sẽ hỗ trợ cho nhiệm vụ này.

    Các biện pháp an toàn sinh học

    An toàn sinh học (ATSH) mô tả các quá trình quản lý nguy cơ sinh học một cách toàn diện. Có thể xác định các nguy cơ theo hai cách: nguy cơ đến từ bên ngoài và các nguy cơ ô nhiễm sinh học lây lan bên trong một cơ sở nuôi. Các nguyên tắc của ATSH có thể áp dụng cho các hình thái sản xuất khác nhau trong các hệ thống thâm  canh  hoặc  quảng  canh.

    Các hoạt động chính trong giải pháp ATSH từ ngoài gồm kiểm soát thủy sản đưa vào cơ sở nuôi, dù là trứng, giống hoặc ấu trùng. Đây là con đường hiệu quả nhất cho các tác nhân gây bệnh, vì thế, chỉ nên thực hiện sau khi có chứng thư vệ sinh đáng tin cậy. Giám sát tình trạng sức khỏe của động vật hoang dã từ các khu vực lân cận có thể cho thấy nguy cơ mà cơ sở nuôi phải đối mặt trong tương lai. Ngoài ra, cũng cần đánh giá tính hiệu quả của các hàng rào ngăn cách, việc khử trùng các phương tiện vào  khu  nuôi,  lọc,  tuần  hoàn nước, ...

    Các  hoạt  động  chính  của phương pháp ATSH ngăn chặn dịch bệnh từ bên trong bao gồm giám sát vật nuôi nhằm xác định tình trạng sức khỏe của chúng và có thể phát hiện các vấn đề bệnh nghiêm trọng tại các giai đoạn phát triển khác nhau; phân chia các đơn vị sản xuất; kiểm tra hoạt động của nhân viên và khử trùng thường xuyên.

    Là một phần trong kế hoạch ATSH, mỗi cơ sở nuôi cần một kế hoạch dự phòng nhằm phục hồi nhanh nhất với chi phí thấp nhất và thời gian gián đoạn ngắn nhất sau khi bùng phát dịch bệnh. Phục hồi nhanh và kiểm soát có hiệu quả là nhờ phản ứng kịp thời và thực hiện các biện pháp ATSH hiệu quả.
    Victoria Alday-Sanz
                 Hằng Vân dịch
                Global Aquaculture Alliance
                            5-6/2011

    Ý KIẾN BẠN ĐỌC
    Telex   VNI  
    Name:
    *
    Address:
    Phone:
    Email:
    *
    Content:
    *
    Tin mới
    • Cà Mau: 229 tàu cá được công nhận đủ điều kiện VSATTP (18/05)
    • Quá nhiều tiêu chuẩn sản xuất bền vững trong ngành thủy sản (18/05)
    • Từ Sông Tranh 2, nhìn lại an toàn thủy điện (16/05)
    • Eu kêu gọi trừng phạt các nước không báo cáo cường lực khai thác thủy sản (10/05)
    • ASC thúc đẩy ngành cá tra Việt Nam (09/05)
    Tin đã đăng
    • Mỹ: Quỹ nghiên cứu NOAA hỗ trợ phòng ngừa ngộ độc hải sản (30/12)
    • Trại giống Thủy sản Vĩnh Long hướng đến GlobalG.A.P (30/12)
    • Nhật Bản: Xây dựng đề án cảng cá sinh thái (30/12)
    • MSC thực sự cải thiện nghề cá (29/12)
    • Liên minh châu Âu: Chính sách nghề cá chung thất bại? (28/12)
  • Trong cùng số
    • PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
    • Số 144 | Tháng 12/2011
    1. Trung Quốc: ConocoPhilips bị kiện sau vụ dầu tràn
    2. “Việt Nam đòi chủ quyền Hoàng Sa bằng hòa bình”
    3. Thủy sản nơi xứng để gửi gắm niềm tin
    Xem bản in | Tải xuống
    • Chilê: Xuất khẩu cá hồi gần đạt mức cao kỷ lục
    • Mỹ: NOAA nghiên cứu sự bùng nổ tảo độc ngoài khơi California
    • Chúc mừng Năm Mới Nhâm Thìn - 2012
    • Canađa: Phương pháp phân tích phát hiện các chất gây dị ứng hải sản
    • Trại giống Thủy sản Vĩnh Long hướng đến GlobalG.A.P
    • Công ty cổ phần Gò Đàng kiên trì mục tiêu dẫn đầu
    • Thị trường nhuyễn thể hai mảnh vỏ thế giới
    • Anh, Hàn Quốc là các thị trường tôm tăng trưởng nhanh nhất của Thái Lan
    • Thị trường thủy sản Việt Nam 10 tháng đầu năm 2011
    • Mỹ: Những yếu tố tác động tới sức mua thủy sản
    • Ryco: Máy philê cá LazerEye
    • Thủy sản nướng
    • Fishpac: Hệ thống vận chuyển cá tươi sống
    • Nghệ An: Bắt được cá chình nặng 6,5 kg
    • Khai thác thủy sản 11 tháng đầu năm 2011
    • Nuôi trồng thủy sản 11 tháng đầu năm 2011
    • Đánh giá nguy cơ dịch bệnh: Công cụ hữu hiệu giảm thiểu thua lỗ trong NTTS
    • Cá tra giống kém chất lượng: cái sảy nảy cái ung!
    • Thị trường Italia rất có ý nghĩa đối với thủy sản Việt Nam
    • UAE hướng đến thủy sản sinh thái
    • Xuất khẩu tôm (Mã HS 03 & 06) 10 tháng đầu năm 2011
    • Xuất khẩu mực, bạch tuộc (Mã HS 0307 & 16) 10 tháng đầu năm 2011
    • Cá hồi Smart Salmon giúp tăng chỉ số IQ
    • Tôm sinh thái
    • Jarvis Products: Kéo Airsnip©
    • Hải Thanh foods: Thị trường nội địa là điểm tựa để vươn xa
    • Âu Vững và chiến lược kinh doanh thời kinh tế khó khăn
    • Goal 2011 “Tầm nhìn toàn cầu của lãnh đạo nuôi trồng thủy sản”
    • Niu Dilân: Cam kết hỗ trợ nghề cá bền vững
    • Tiêu chuẩn Codex về nước mắm
    • Bánh nướng tôm Maine
    • Hoạt động R&D quyết định tương lai ngành cá tra
    • Xuất khẩu cá ngừ (Mã HS 03 & 16) 10 tháng đầu năm 2011
    • Xuất khẩu nhuyễn thể hai vỏ (Mã HS 03 & 16) 10 tháng đầu năm 2011
    • Hội chợ thực phẩm SIAL: cánh cửa vào Trung Đông
    • Giải pháp nào cho vụ tôm năm 2012?
    • MCS đánh giá phát triển bền vững của các siêu thị Anh
    • CANAĐA với chương trình quảng bá thủy sản trên toàn cầu
    • Bắc Giang: Sản lượng thuỷ sản tăng gần 2.500 tấn
    • VietGAP Những thách thức trong thực hiện
    • Xuất khẩu cá tra (Mã HS 03 & 16) 10 tháng đầu năm 2011
    • Chiến lược 10 bước để bán được nhiều thủy sản tự nhiên hơn
    • Chế biến hải sản xuất khẩu: Ngày càng khó
  • VIETFISH INTERNATIONAL
  • |
  • THƯƠNG MẠI THỦY SẢN
  • |
  • VIETFISH NEWS
Phiên bản điện tử của Tạp chí Thương mại Thuỷ sản & Vietfish International
Hiệp hội Chế biến & Xuất khẩu Thuỷ sản Việt Nam (VASEP)

Giấy phép hoạt động báo chí số 76/GP-BVHTT
Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 20/3/2001
ISSN 1859 – 1175 / ISSN 1859 – 1183
Địa chỉ: 10 Nguyễn Công Hoan, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84.4) 37716175/22174188 / FAX: (+84.4)37710738
Email: thuongmaithuysan@vasep.com.vn / vietfishintel@vasep.com.vn
LIÊN HỆ QUẢNG CÁO Bản quyền của VASEP
Powered by

Địa chỉ: 27A - Lò Đúc - Hai Bà Trưng - Hà Nội