Thị trường sản phẩm thủy sản dạng nguyên liệu (sushi, sashimi) có hoặc không có các thành phần bổ sung và các sản phẩm bảo quản nhẹ như cá hun khói lạnh, các sản phẩm dầm nước sốt (ceviche, gravad salmon, carpaccio, v.v…), tôm thịt chín tái, tôm ngâm nước muối và cá tuyết đã xả muối chế biến sẵn v.v… đang tăng dần.
Tất cả những sản phẩm này đều rất dễ hỏng và là điều kiện phát triển thuận lợi của nhiều loại vi sinh không mong muốn như vi khuẩn gây bệnh và gây thối rữa. Nguồn gây nhiễm vi sinh có thể nằm ngay trong nguyên liệu, nhưng việc tái nhiễm bẩn cũng có thể xảy ra trong quá trình xử lý, chế biến và đóng gói sản phẩm. Việc xử lý thường không loại trừ được hoàn toàn các tổ chức vi sinh. Do nhiều sản phẩm thuộc loại trên được ăn sống nên phải hạn chế đến mức thấp nhất sự có mặt của vi khuẩn gây hại và ức chế sự phát triển của chúng. Bên cạnh việc duy trì các điều kiện chế biến vệ sinh, vấn đề cơ bản là phải đảm bảo chất lượng và an toàn thực phẩm (ATTP).
Ổn định sản phẩm thủy sản chế biến tối thiểuTính an toàn và ổn định vi sinh của hầu hết thực phẩm đều dựa trên cơ sở áp dụng các yếu tố bảo quản gọi là rào chắn, có tác dụng đặt các tổ chức vi sinh vào một môi trường bất lợi để ức chế sự phát triển của chúng hoặc làm cho chúng chết. Một số loại rào chắn đã được sử dụng để duy trì tính ổn định của thịt, cá, sữa và rau quả trong nhiều năm. Cũng có khi việc này lại tạo một sản phẩm hoàn toàn khác, có vị mới và các đặc tính riêng. Các ví dụ về rào chắn thông thường trong thủy sản là nhiệt độ (nấu chín, ướp lạnh), muối, xông khói, dùng axit hữu cơ, đóng gói hút chân không hoặc trong không khí biến tính.
Người ta cũng đã mô tả nhiều loại rào chắn dùng cho thực phẩm như bacteriocins, chitosan, nitrade, lactoperoxidase và nhiều loại tinh dầu cũng như các công nghệ mới loại trừ nhiễm bẩn như cao áp, ánh sáng xung lượng, nước muối điện phân, ozon, v.v... Các công nghệ này ít được áp dụng vì chúng không hiệu quả lắm cho thủy sản và có thể làm thay đổi các đặc tính của thủy sản.
Người tiêu dùng ngày nay muốn các sản phẩm tự nhiên được xử lý ít nhất với lượng chất bảo quản tối thiểu, đồng thời ngày càng nhiều người coi trọng các khía cạnh về dinh dưỡng.
Phương pháp bảo quản sinh học Bảo quản sinh học là công nghệ kéo dài tuổi thọ sản phẩm bằng cách kiểm soát sự phát triển của các loại vi khuẩn gây bệnh nội sinh trong sản phẩm đã được bảo quản lạnh, bao gồm cả việc tiêm vào sản phẩm những vi sinh vật chọn lọc có tính bảo vệ do có đặc tính ức chế sự phát triển các tổ chức vi sinh không mong muốn. Vi khuẩn axit lactic (LAB) thường được chọn trong ứng dụng này vì chúng sản sinh ra hàng loạt hợp chất có tính ngăn chặn như các axit hữu cơ, hyđro peroxit, điaxetyl, bacteriocins, hoặc chúng cạnh tranh với các tổ chức vi sinh khác bằng cách làm suy kiệt nguồn dinh dưỡng. Ngoài ra, LAB gắn liền với các sản phẩm lên men truyền thống, nên bản thân nó đã đạt chuẩn (US FDA) công nhận.
LAB tồn tại trong tự nhiên và thường phát hiện thấy ở nhiều thực phẩm cũng như trong cơ quan sinh dục, ruột và khoang miệng của con người và động vật. Theo kinh nghiệm từ hàng nghìn năm nay, con người đã sử dụng LAB nội sinh để lên men sữa, thịt, rau hoa quả để tạo ra những sản phẩm ổn định mới sau quá trình axit hoá. Các loài LAB đang sử dụng đã được chọn lọc và sản xuất thương mại với các loại vi khuẩn thúc lên men dạng khô, có thể bổ sung vào thực phẩm và cho phép kiểm soát tốt hơn quá trình lên men.
Trong một thời gian dài, LAB không được coi trọng trong bảo quản thủy sản do người ta nghĩ chúng không có trong cơ thịt của thủy sản tươi, vì đặc tính của cơ thịt thủy sản tươi là ưa vi khuẩn gam âm trong nước biển. Nhưng từ những năm 90, người ta đã chứng minh sự có mặt của số lượng lớn LAB trong sản phẩm thủy sản bảo quản nhẹ, và đã tích cực nghiên cứu về chúng. Tuy nhiên, hiện nay vẫn có rất ít ứng dụng trong các sản phẩm thủy sản.
Rào cản chính là LAB không được phép làm thay đổi các phẩm chất cảm quan tinh tế của sản phẩm. Nhiều vi khuẩn cho những kết quả hứa hẹn trong môi trường chất lỏng lại không có tác dụng với thủy sản vì chúng phát triển rất kém trong các điều kiện môi trường hoặc sinh ra mùi khó chịu. Gần đây mới có chiến dịch tuyển chọn các loại LAB có mặt tự nhiên trong thủy sản để sử dụng cho thủy sản bảo quản ở nhiệt độ ướp lạnh.
Sử dụng bảo quản bằng vi khuẩn có thể ngăn chặn sự phát triển của Listeria monocytogenes trong cá hồi xông khói lạnh không ảnh hưởng đến đặc điểm cảm quan
Rủi ro của vi sinh Thủy sản hư hỏng chủ yếu là do tác động của vi sinh. Tuy nhiên, từ lâu người ta vẫn chưa hiểu được cơ chế làm hỏng sản phẩm thủy sản đã qua bảo quản nhẹ của vi sinh. Thực tế, hệ vi sinh của các sản phẩm này rất phức tạp và khác nhau tùy theo xuất xứ của nguyên liệu, các điều kiện vệ sinh trong nhà máy, quy trình chế biến và các điều kiện bảo quản. Ngày nay, người ta thừa nhận rằng một số LAB như Enterobacteriacea, Brochothrix thermosphacta và các vi khuẩn gam âm biển điển hình thường liên can đến hư hỏng có thể tồn tại và tác động qua lại theo cách rất phức tạp.
Vi khuẩn mầm bệnh từ con người hoặc từ nguồn gốc chế biến (Salmonella, Escherichia coli, Staphylococcus) đều có thể tìm thấy trong sản phẩm và có thể tạo thành một mối nguy, ngay cả khi ở mức tổng khuẩn thấp. Vì vậy, cần có các quy trình vệ sinh tốt để không cho các sản phẩm bị nhiễm bẩn sau chế biến. Tuy nhiên, vi khuẩn mang mầm bệnh vốn có mặt một cách tự nhiên trong môi trường nước hay trong thủy sản cũng có thể gây ra các vấn đề (ví dụ Vibrio cholerae, V parahaemolyticcus, Clostridium botulinum típ E, vi khuẩn sinh histamine, Listeria monocytogenes) và điều cần thiết là ngăn chặn triệt để sự tăng trưởng của chúng. Có thể kiểm soát phần lớn trong số chúng bằng cách tôn trọng nghiêm ngặt việc bảo quản ướp lạnh và có đủ chất bảo quản (ví dụ muối, xông khói v,v…).
L monocytogenes là mối nguy vi sinh chính liên quan đến thực phẩm bảo quản nhẹ vì nó có thể phát triển ngay cả ở nhiệt độ thấp (00 C), độ pH thấp (4,5), cả trong điều kiện hiếu khí và kỵ khí. L monocytogenes là vi khuẩn gây bệnh listeriosis, một loại bệnh nhiễm trùng xuất phát từ thực phẩm thường gây tỷ lệ tử vong cao (20-40%). Trong các sản phẩm thủy sản đã qua sơ chế như cá hồi xông khói lạnh hay tôm thịt chín ngâm nước muối và bảo quản trong bao bì có khí biến tính L. monocytogenes phát triển khác nhau nhưng tăng lên rất nhanh. Lượng nhiễm L. monocytogenes ban đầu thường dưới mức 1CFU/g nhưng có thể tăng lên trong quá trình bảo quản và có khi vượt ngưỡng cho phép của châu Âu là 100 CFU/g (EC1441/2007) vào cuối thời hạn sử dụng của sản phẩm. Mặc dù, có rất ít báo cáo về các trường hợp bị nhiễm listeriosis do ăn thủy sản nhưng việc kiểm soát sự phát triển và mối nguy của nó là rất quan trọng.
Kiểm soát an toàn thực phẩm với việc bảo quản bằng vi sinhĐa số bảo quản bằng vi sinh thủy sản đều nhằm vào L. monocytogenes. Vì khó có thể tiến hành với loại mầm bệnh hạng 2 này, nên nhiều công trình nghiên cứu đã được thực hiện với khuẩn đại diện L innocua và kết quả hầu như không có giá trị đối với L monocytogenes.
Nhiều tác giả đã lựa chọn một số chủng như Carmobacterium maltaromaticum, C. divergens và Lactobacillus sakei để ức chế thành công sự tăng trưởng của L monocytogenes trong cá hồi xông khói lạnh bảo quản chân không, trong surimi và trong tôm thịt chín bảo quản trong bao bì có khí biến tính. Một chủng của Lactococcus piscium cũng được chọn do có tác dụng đối với L. monocytogenes và Staphylococcus aureus trong tôm. Tác dụng này nhờ vào việc sản sinh ra bacteriocins, nhưng trong một số trường hợp việc cạnh tranh lấy glucoza là tác dụng ức chế phát triển chính. Tuy nhiên, tất cả các xét nghiệm này rất hiếm khi lặp lại đối với các chủng khác nhau của L. monocytogenes và kết quả của việc bổ sung men bảo vệ đối với hệ thống vi sinh cũng như các đặc tính cảm quan của thành phẩm thường ít được xem xét.
Hiện nay, người ta đã đạt được nhiều kết quả hứa hẹn về tính năng chống Listeria của ba chủng C. maltaromaticum, C. divergens đối với một tập hợp 60 chủng L. monocytogenes trong cá hồi xông khói. Tất cả các chủng Listeria đều bị ức chế nhưng 3 nhóm khác nhau có thể khác nhau rất rõ rệt về tính nhạy cảm đối với 3 chủng của Carmobacterium. Các blốc cá hồi xông khói lạnh cùng được cấy Carmobacterium và hỗn hợp của các chủng L. monocytogenes. Trong tất cả các trường hợp đều thu được các kết quả suất sắc và một trong những chủng này đã cho phép duy trì L. monocytogenes ở mức <50 CFU/g (nhiễm ban đầu là 100 L monocytogenes/g) trong bốn tuần bảo quản bằng đóng gói chân không ở nhiệt độ 4 và 80C, thậm chí đối với cả L monocytogenes kém nhạy cảm. Thêm vào đó, cần lưu ý rằng chủng vi khuẩn này không axit hóa sản phẩm và không làm thay đổi hệ sinh thái vi sinh của nó (ngoại trừ Listeria). Đánh giá cảm quan cũng xác nhận không có biến đổi so với sản phẩm không được cấy.
Kéo dài thời hạn sử dụng Một thách thức quan trọng khác là cắt giảm hao hụt thực phẩm khi bảo quản do sự phát triển của các tổ chức vi sinh phá hủy. Tuy nhiên, hầu như chưa có những nỗ lực mang tính thuyết phục trong việc kiểm soát hệ vi sinh bằng cách cấy men bảo vệ, nguyên nhân là do sự phức tạp của hệ sinh thái vi sinh xuất hiện trong sản phẩm thủy sản đã qua sơ chế. Hầu hết các xét nghiệm được thực hiện với Carmobacterium đã chứng tỏ tính không hiệu quả của chúng trong việc làm chậm lại quá trình hư hỏng của sản phẩm thủy sản.
Mới đây, 2 chủng Leuconoostoc gelidum và 2 chủng Lactobasillus piscium đã cho kết quả hứa hẹn, làm chậm lại quá trình hư hỏng của tôm nhiệt đới vốn bị nhiễm từ trong tự nhiên và cá hồi xông khói lạnh đóng gói chân không. Cá biệt, có ba chủng được chấp nhận tốt đối với nhiều thủy sản và đối với các điều kiện bảo quản ướp lạnh, các đặc tính này thường không thấy ở LAB. Tôm hoặc cá hồi lát xông khói lạnh không được cấy vi khuẩn đã bị hỏng hoàn toàn sau 28 ngày, ngược lại, khi được cấy các chủng vi khuẩn, chúng vẫn giữ được các đặc tính về độ tươi. Tuy nhiên, người ta vẫn chưa hiểu được cơ chế của hoạt động này và kết quả dường như không liên quan tới các chủng vi khuẩn và các sản phẩm thủy sản.
Các khía cạnh về ATTP của vi khuẩn bảo vệ sinh học Khi ứng dụng đối với thực phẩm, cần xem xét các khía cạnh về tính ATTP của vi khuẩn bảo vệ sinh học. Cần phải kiểm tra việc sản sinh ra histamine, vì đây là thành phần dẫn đến các hội chứng như dị ứng. Về sản phẩm thủy sản, hiện chưa hề có báo cáo nào về việc sản sinh histamine liên quan đến C maltaromaticum, C divergens, Leuconostoc gelidum và Lactobasillus piscium. Những loài LAB có triển vọng này được nghiên cứu để bảo quản sản phẩm thủy sản đã không thể hiện vấn đề kháng kháng sinh hoặc khả năng có độc tố tế bào.
Ngoại trừ những vi sinh đã đề cập trong Quy định thực phẩm mới (1997), các tổ chức vi sinh được sử dụng để bảo vệ sinh học đối với thực phẩm đều không phụ thuộc vào quy định ở châu Âu. Ngày 19/11/2007, Cơ quan phụ trách ATTP châu Âu (EFSA) đã thông qua hướng dẫn về Giả định đủ điều kiện an toàn (QPS) được coi là tương đương của châu Âu đối với chuẩn GRAS của Mỹ về mặt đánh giá rủi ro. Tuy nhiên, chuẩn GRAS này chỉ áp dụng đối với thức ăn và vẫn còn một khoảng cách trong việc kiểm soát đối với ứng dụng vào thực phẩm. Một danh mục các nhóm vi sinh được đánh giá là phù hợp với chuẩn QPS đã được xuất bản trong Tạp chí EFSA (2008), bao gồm 73 loài của các nhóm vi sinh, trong đó có 47 loài LAB thuộc về loại Bifdobacterium, Lactobasillus, Lactococcus, Streptococcus, Leuconostoc, Pediococcus và Propionibacterium. Các chủng có thể dùng trong sản phẩm thủy sản như Carmobacterium sp, Lactobasillus sp, Lactococcus sp được phát hiện ở mức cao rất phổ biến trong sản phẩm hải sản nhưng con người không có hói quen sử dụng chúng để bảo quản thủy sản. Sự hiện diện của chúng trong sản phẩm thủy sản và những lợi thế tiềm năng của chúng trong việc quản lý chất ượng và ATTP chỉ mới được phát hiện trong 10-20 năm trở lại đây.
Có thể dự đoán trong tương ai sẽ phải có hướng dẫn về đánh giá rủi ro đối với các chủng vi khuẩn C. maltaromaticum, C. divergens, Leuconostoc gelidum và Lactobasillus piscium, là những vi khuẩn có tính bảo vệ rất tiềm năng đối với sản phẩm thủy sản nhưng không được đưa vào danh mục QPS. Việc loại trừ đó không hàm ý một rủi ro nào liên quan đến việc sử dụng chúng. Nhiều nhóm vi sinh thường gặp trong sản xuất thực phẩm không được xem xét, đơn giản chỉ vì hiện nay chúng chưa phải là đối tượng của các loại giấy phép khi đưa ra thị trường, vì vậy cần thông báo cho EFSA. Danh mục QPS được cập nhật hằng năm. Chắc chắn nhiều chủng vi khuẩn bảo vệ thủy sản sẽ đạt được chuẩn QPS nếu thông báo cho EFSA.
Kết luậnViệc sử dụng vi sinh để bảo quản trong ngành thủy sản vẫn chưa phổ biến như với các sản phẩm thịt và sữa, mặc dù đã có những kết quả hứa hẹn trong việc giảm thiểu L. monocytogenes và kéo dài tuổi thọ sản phẩm. Hầu hết các công ty lớn sản xuất men thúc vi sinh không bán LAB cho các ứng dụng đối với thủy sản vì chưa phát hiện đủ các chủng. Tuy nhiên, tình hình chuyển biến rất nhanh. Về ATTP, với trên 20 năm nghiên cứu cơ bản và ứng dụng về các chủng C. maltaromaticum, C. divergens đã cho phép có được các dữ liệu phân loại học về tế bào chính xác, kiểm chứng về ATTP và bằng chứng thuyết phục về hiệu quả sinh lợi của chúng đối với việc kiểm soát rủi ro của L. monocytogenes trong thủy sản bảo quản nhẹ mà không có bất cứ tác động tiêu cực nào đối với đặc tính cảm quan của chúng.
Cải tiến chất lượng sản phẩm thủy sản vẫn còn là một thách thức vì cơ chế làm hỏng của các sản phẩm vẫn rất khác nhau, vì vậy việc tuyển chọn các tổ chức vi sinh bảo vệ phải phù hợp với từng tập hợp và từng nhà máy chế biến. Tuy nhiên, có nhiều chủng đã sẵn sàng cho một số ứng dụng. Một loại men thúc đã được cấp bằng sáng chế có tên LLO của một công ty Pháp (Bioceane, Nantes, Pháp) đã được thương mại hóa phục vụ cho việc bảo quản riêng đối với sản phẩm thủy sản như tôm thịt chín.
Số các công trình nghiên cứu ngày càng tăng với mục đích khai thác khả năng của LAB biển nhằm kiểm soát chất lượng và ATTP thực phẩm của sản phẩm hải sản. Công nghệ này được dùng như một rào chắn ngăn chặn sự phát triển của các tổ chức vi sinh không mong muốn, nhưng không thể thay thế cho các quy trình vệ sinh tốt.
Francoise Leroi
Phương Mai dịch
Infofish International 4/2011