Những kết quả này được xuất bản trên tạp chí Khoa học và Công nghệ Môi trường tháng 11, nêu rõ những hạn chế trong các chương trình thanh tra thủy sản nhập khẩu vào 4 thị trường nhập khẩu thủy sản lớn nhất thế giới, đồng thời cho thấy loại sản phẩm thủy sản và nước xuất xứ có tỷ lệ thất bại cao nhất trong các đợt kiểm tra.
Theo nghiên cứu này, chỉ 2% thủy sản nhập khẩu của Mỹ bị kiểm tra để phát hiện có bị nhiễm độc hay không, trong khi tỷ lệ này tại Liên minh châu Âu là 50%, Nhật Bản 18% và Canađa 15%. Kiểm nghiệm tại Mỹ có khi phát hiện dư lượng thuốc được sử dụng trong nuôi trồng thủy sản.
Các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy sự thiếu minh bạch trong chính sách và quy định về kiểm tra. Ví dụ, những hồ sơ công khai không xác định thời điểm thủy sản vượt qua thanh tra hoặc việc thanh tra đã được thực hiện với những mẫu được lựa chọn ngẫu nhiên hay có chủ đích. Họ cũng thấy rằng FDA chỉ kiểm nghiệm đối với 13 dạng dư lượng thuốc, trái với việc các cơ quan thanh tra tại châu Âu và Nhật Bản kiểm tra tới 34 và 24 loại thuốc.
Tôm, lươn, cua, catfish, cá tra, rôphi và cá hồi nhập khẩu vào Mỹ, Liên minh châu Âu, Nhật Bản và Canađa có tần suất vi phạm các quy định về thuốc cao nhất.
Thủy sản nhập khẩu có thể mang nhiều rủi ro về an toàn thực phẩm vì FDA không có đủ lực để chủ động và thường xuyên thanh tra các cơ sở ở nước ngoài nên phải phụ thuộc vào giải pháp cuối cùng là kiểm tra sản phẩm. Để giảm thiểu những nguy cơ của thủy sản nhập khẩu và nâng cao các tiêu chuẩn kiểm tra của Mỹ nhằm theo kịp các nước khác, các tác giả đề xuất tăng ngân sách cho FDA để có thể kiểm tra rộng rãi hơn và thuê thêm thanh tra viên.
Seafoodsource