• THƯƠNG MẠI THỦY SẢN - Số 134 | Tháng 02/2011

    Các chính sách mà Việt Nam theo đuổi kể từ năm 1986, về nhiều mặt, đã chứng tỏ sự thành công to lớn. Đời sống được nâng lên, cuộc sống của rất nhiều người đã được cải thiện. Đây là một thành công rất đáng tự hào.

    Tăng trưởng tương lai vừa phải dựa trên những lợi thế hiện có vừa phải tạo dựng những lợi thế cạnh tranh mới
    Những khuyến nghị chính sách chủ yếu
     
    Điều chỉnh chính sách trong thời kỳ  hiện  nay  không  có  nghĩa  là phủ  nhận  các  chính  sách  trong quá khứ. Đó chỉ là một dấu hiệu thích ứng với sự thay đổi của bản thân quốc gia, cũng như của môi trường  xung  quanh:  Những  gì đã phát huy tác dụng trong quá khứ không có nghĩa là sẽ tiếp tục phát  huy  tác  dụng  trong  tương lai. Thay đổi cách tiếp cận trong chính sách không chỉ là thay đổi chi  tiết, nội dung  của  các  chính sách mà còn là việc áp dụng các nguyên tắc mới - những nguyên tắc  sẽ  chỉ  đạo  và  chi  phối  việc xây dựng  các  chính  sách  cụ  thể và đưa chúng vào triển khai thực hiện. Ba nguyên  tắc dưới đây  là đặc biệt quan trọng và định hình ba  sự  chuyển đổi  lớn Việt Nam cần thực hiện.
     
    Chính phủ tạo điều kiện và đảm bảo để thị trường vận hành theo những nguyên tắc của nó
     
    Trước hết, tăng trưởng tương lai của  Việt  Nam  cần  vượt  lên trên  việc  khai  thác  những  lợi thế sẵn có;  tức  là phải   vừa dựa trên việc nâng cấp những lợi thế hiện  có  và  tạo  dựng  các  lợi  thế cạnh  tranh  mới.  Điều  này  đòi hỏi phải thay đổi các điều kiện vĩ mô và vi mô thúc đẩy tăng năng suất  lao động. Những thảo  luận chính sách hiện nay ở Việt Nam hầu như chưa hướng tới mục tiêu này.  Trọng  tâm  chính  sách  vẫn đang  hướng  nhiều  vào  duy  trì tốc độ  tăng  trưởng ngắn hạn về lượng hơn là duy trì tăng trưởng dựa  trên  nâng  cao  năng  suất trong  dài  hạn,  mang  tính  bền vững. Nhiều chính sách vĩ mô có thể kích  thích  tăng  trưởng ngắn hạn nhưng lại không có tác dụng hoặc  thậm  chí  gây  ảnh  hưởng tiêu  cực  tới  tăng  trưởng  năng suất dài hạn của nền kinh tế.
    Thứ  hai,  Chính  phủ  Việt Nam cần xác định được một vai trò mới  cho mình,  phù  hợp  với yêu cầu của một nền kinh  tế  thị trường năng động, đang trỗi dậy và đang hội nhập ngày càng sâu rộng. Với vai trò này, Chính phủ sẽ đảm nhận những công việc tạo điều kiện và đảm bảo thị trường được vận hành  theo nguyên  tắc của  nó. Chính phủ  sẽ  cung  cấp một  môi  trường  thể  chế  minh bạch  và  hiệu  quả  trong  đó  các doanh  nghiệp  thuộc mọi  thành phần  cạnh  tranh  với  nhau một cách  bình  đẳng  trên  mọi  mặt. Chính phủ cần một cách tiếp cận hiệu quả trong việc cung cấp các hàng  hoá, dịch  vụ  công  như  cơ sở hạ tầng, giáo dục, và các quy định chính sách để vừa phản ánh được  ý  chí  chính  trị  của  mình vừa  phản  ánh  được  nhu  cầu của  các DN và người dân. Tóm lại,  vai  trò  của  Chính  phủ  cần hướng  tới  tạo  ra một  điểm  đến kinh doanh với  các  lợi  thế  cạnh tranh  rõ  ràng. Những  thảo  luận chính sách hiện nay ở Việt Nam thường  tập  trung  quá  nhiều vào  quy mô  và  quyền  lực  trực tiếp  của Chính phủ, hơn  là vào khả năng  thực hiện những chức năng  cần  thiết  của  Chính  phủ.
    Thứ ba, Việt Nam cần tạo lập một  môi  trường  kinh  tế  có  sự hiện diện cân bằng, hài hoà của cả khu vực DN nhà nước, tư nhân và  nước  ngoài.  Cần  có  sự  cạnh tranh  bình  đẳng  giữa  các  khu vực này,  từ đó cho phép những DN có đóng góp nhiều nhất vào sự  thịnh vượng và hiệu quả của nền kinh tế được phát triển. Thảo luận chính sách hiện nay tại Việt Nam thường tập trung vào quan điểm chính trị về sở hữu. Thực ra, cấu  trúc  thị  trường, gồm những yếu  tố như mức độ  cạnh  tranh, quan trọng hơn nhiều so với yếu tố sở hữu  trong việc quyết định mức năng suất của một DN. Việc quản  lý  điều  hành  các DN  nhà nước  phải  minh  bạch,  vai  trò của Chính phủ với tư cách là chủ sở hữu phải  tách biệt hoàn  toàn khỏi vai trò là người điều tiết và ra quy định, và các DNNN phải tuân thủ các quy luật và kỷ luật thị  trường  như  các  thành  phần kinh tế khác.
     
    Các khuyến nghị cụ thể
    Việt  Nam  cần  một  phương pháp  tiếp  cận  đồng  bộ  và  hiệu quả trong việc xây dựng các chính sách kinh tế vĩ mô nhằm đối phó với những rủi ro do các mất cân đối  vĩ  mô  gây  ra.  Dưới  đây  là một  số gợi ý  chính  sách  cụ  thể:
    Sự minh bạch về tài khoá của Chính  phủ  và  các  DNNN:  Việt Nam cần xây dựng một cơ quan độc  lập  chịu  trách  nhiệm  cung cấp  các  thông  tin,  số  liệu minh bạch và chính xác về  thực  trạng của nền kinh tế. Các DNNN phảituân  thủ  các  quy  định  chặt  chẽ về  công  bố  thông  tin  như  các thành phần kinh tế khác, đặc biệt là thông tin về kết quả tài chính của  DN,  hiệu  quả  hoạt  động, các mối  liên hệ về  tài  chính với Chính phủ, v.v.
     
    •  Củng  cố  quản  lý  tài  chính công: Quản lý ngân sách cần đảm bảo minh bạch và kỷ  luật nhằm duy  trì  cán  cân  ngân  sách  bền vững  và  giảm  thiểu  các  khoản chi ngoài ngân sách. Tăng cường chất  lượng  và  hiệu  quả  trong quản  lý  nợ  công.  Trong  đầu  tư công,  cần  tuân  thủ  nguyên  tắc công khai minh bạch và giám sát độc lập.
     
    Chính  sách  tiền  tệ nhất quán và có thể dự đoán được: Cần làm rõ sự phối hợp về chính sách tiền tệ giữa cả ba cấp, Quốc hội, Chính phủ và NHNN. NHNN theo đó cần đưa ra những tín hiệu rõ ràng về  mục  tiêu  chính  sách  chính, như  lạm  phát,  và  các mục  tiêu về tăng trưởng tín dụng và cung tiền. Qua thời gian, sự độc lập, tự chủ và năng  lực của NHNN với tư cách  là một ngân hàng  trung ương cần được củng cố.
     
    Quản lý thị trường tài chính: Việt Nam  cần  xây  dựng  một khung pháp  lý hoàn  thiện,  chặt chẽ  để  giảm  thiểu  cơ  hội  phát sinh các hành vi đầu cơ, đồng thời đưa thị trường phát triển lên một cấp độ cao hơn. NHNN cần giám sát chặt chẽ hệ thống tài chính để đảm  bảo  sự  lành mạnh  của  thị trường và các định chế tài chính.
     
    Phối hợp đồng bộ các chính sách vĩ mô: Hội  đồng  Tư  vấn  Chính sách Tài chính Tiền  tệ Quốc gia có  thể  đóng  vai  trò  quan  trọng trong  việc  điều  phối  và  kết  nối đồng bộ các chính sách vĩ mô giữa các bộ, ngành. Chức năng nhiệm vụ  và  hoạt  động  của Hội  đồngcần được nâng cấp và củng cố để có  thể định hướng và điều phối các mục tiêu chính sách trung và dài  hạn,  chứ  không  chỉ  để  tìm kiếm các giải pháp tình thế nhằm đối  phó  và  xử  lý  những  khủng hoảng  hay  vấn  đề  trước  mắt. Việt Nam cần các chính sách vi mô để có thể giải quyết nhanh và hiệu quả các nút  thắt cổ chai tại  những  vùng  hay  những ngành mà  vấn đề đang  trở  nên cấp thiết nhất. Để giải quyết triệt để những thách thức này, cần có sự thay đổi đồng loạt trên nhiều lĩnh vực cả về chính sách và thể chế. Trong khi đó, Chính phủ vẫn cần  tìm  ra  câu  trả  lời  nhanh  và hiệu quả để  tạm  thời gỡ những nút thắt này thông qua các sáng kiến liên kết công - tư:
    Các  dự  án  thí  điểm  lấy  cụm ngành  làm  trung  tâm: Việc  thiếu một  cơ  chế  đối  thoại  thường xuyên  giữa  các  cơ  quan  chính phủ là một trong những rào cản lớn  nhất  trong  việc  tháo  gỡ  các nút  thắt  cổ  chai.  Bước  đầu  có thể  thực hiện một vài sáng kiến thí điểm về cụm ngành với  tiêu chí  lựa  chọn  là  các cụm  ngành đó đang đối mặt với những vấn đề tương đối lớn, nếu giải quyết được sẽ  có ý nghĩa  tác động  tới một số lượng đáng kể các doanh nghiệp và có sự sẵn sàng hợp tác giữa các doanh nghiệp và các cơ quan  chính  quyền  để  cùng  giải quyết vấn đề.
     
    Việt Nam cần một chiến lược kinh  tế  tổng  thể nhằm nâng cao NLCT và đưa đất nước  tiến  lên giai  đoạn  phát  triển  mới  với những  lợi  thế  cạnh  tranh  mới. Chiến  lược  này  cần  hướng  tới việc  định  vị  Việt Nam  như  thế nào  trong nền kinh  tế  toàn  cầu.
    Để đạt  tới điểm đích đó,  sẽ  cần điều  chỉnh  không  chỉ  nội  dung các  chính  sách  có  liên  quan mà cả  cách  thức  xây  dựng  và  thực hiện  các  chính  sách.  Báo  cáo này  không  có  tham  vọng  vạch ra những chi  tiết cụ  thể về định vị  nền  kinh  tế  Việt Nam  trong tương lai. Nhưng dù với kịch bản định  vị  nào,  cũng  sẽ  có một  số lĩnh vực căn bản quan trọng cần thay đổi. Dưới đây là những lĩnh vực chính  sách quan  trọng nhất cần tập trung cải cách.
     
    Các chính sách cụ thể
    Giáo dục và kỹ năng lao động: Kỹ  năng  lao  động  có  ý  nghĩa quan trọng đối với việc xây dựng nền kinh  tế giá  trị gia  tăng  cao. Cách  tiếp  cận  hiện  nay  không giải quyết được vấn đề, cả về số lượng, chất lượng và sự phù hợp của giáo dục và các kỹ năng lao động. Một cách tiếp cận mới đối với vấn đề giáo dục và đặc biệt là vấn đề kỹ năng lao động là phải tập trung nhấn mạnh vai trò của giáo dục như là yếu tố trung tâm quyết định  việc  tăng  năng  suất lao động cao hơn.
     
    Cơ sở hạ tầng: Hạ tầng giao thông, viễn thông và năng lượng là một điều kiện quan trọng khác để  Việt  Nam  có  thể  phát  triển được nền kinh tế giá trị gia tăng cao.  Cách  tiếp  cận  chính  sách hiện nay đã giúp nâng cấp đáng kể cơ sở hạ tầng kỹ thuật của Việt Nam. Nhưng  chi phí đầu  tư hạ tầng cao, tác động của đầu tư hạ tầng đối với việc nâng cao NLCT còn hạn chế và nhu cầu của nền kinh tế đang tăng nhanh hơn cả tốc  độ  xây  dựng  hạ  tầng. Cách tiếp  cận  chính  sách mới  về đầu tư hạ tầng cần đánh giá một cách có hệ thống các dự án đầu tư hạ tầng và ưu tiên, tập trung đầu tư vào các dự án đóng góp lớn nhất vào việc cải thiện NLCT quốc gia.
    • Quản  trị  DNNN:  Các DNNN vẫn là một bộ phận quan trọng của nền kinh  tế Việt Nam và sẽ vẫn tiếp tục giữ vai trò này trong thời gian tới. Cách tiếp cận chính  sách hiện nay  trong quản lý DNNN không tạo ra được các DN  mạnh,  có  NLCT  cao  như mong  đợi  ban  đầu  của  các  nhà hoạch định chính sách. Cách tiếp cận chính sách mới cần tập trung vào tăng cường hiệu lực quản trị DNNN  và  tách  biệt  vai  trò  của nhà nước với tư cách là chủ sở hữu với tư cách quản lý, điều tiết. Với vai trò là chủ sở hữu, Chính phủ cần xác định cụ  thể, rõ ràng các mục tiêu mà DNNN cần phải đạt được. Các DNNN cần phải chịu các áp lực cạnh tranh giống như các  thành phần kinh  tế khác  (tư nhân trong nước hay nước ngoài). 
     
    •  Thu  hút  FDI:  Thu  hút  vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một trong những động lực dẫn dắt  tăng  trưởng  của  Việt  Nam thời gian qua. Cách tiếp cận chính sách trong thu hút FDI hiện nay còn  thụ  động  và  nhắm  tới  việc thu hút được nhiều vốn đăng ký (vốn cam kết). Nhưng giá trị mà FDI  thu  hút được mang  lại  cho Việt Nam  là chưa đủ. Cách  tiếp cận  chính  sách mới  về  FDI  cần tập trung vào vốn FDI thực hiện hay  giải  ngân  hơn  là  vốn  đăng ký, nhấn mạnh hơn vào giám sát, theo dõi sau giải ngân một cách có  hiệu  quả.  Công  tác  thu  hút FDI cần được tách biệt khỏi công tác quản  lý  cấp phép. Cần phải nhìn nhận FDI là một công cụ để củng cố NLCT của Việt Nam.
    Chính sách phát triển ngành/cụm ngành: Nâng cao NLCT đòi hỏi phải  có  sự  chuyên môn hoá cao  trong  những  lĩnh  vực  mà ở  đó  sự  hiện  diện  của  các  hoạt động/DN  hỗ  trợ  hay  có  liên quan sẽ giúp tạo mức năng suất cao hơn mức một DN riêng lẻ có thể đạt được. Cách tiếp cận chính sách hiện nay vẫn dựa vào việc xây  dựng  các DNNN  trở  thành các tập đoàn anh cả của quốc gia, cấp tín dụng ưu đãi cho các công ty  riêng  lẻ  và  xây  dựng  những khu vực có hạ tầng hoàn chỉnh và chuyên biệt. Cách tiếp cận chính sách mới  cần  tập  trung  vào  các cụm  ngành  thay  vì  các  công  ty riêng lẻ. Mục tiêu của chính sách là tăng năng suất, chứ không phải tăng lợi nhuận của một vài công ty đơn lẻ nào đó. Chính phủ cần khuyến khích các DN trong cụm ngành cạnh  tranh ở mức độ cao hơn thay vì bảo hộ cho họ tránh khỏi áp lực cạnh tranh.
     
    Kiến trúc thể chế
    Quy  trình chính  sách: Để có được  các  chính  sách  hiệu  quả trong những  lĩnh vực đã đề cập ở  trên đây và các  lĩnh vực khác, đòi hỏi quy trình thiết kế và thực hiện chính sách phải hiệu quả và khoa học. NLCT đạt được không phải chỉ bằng một  lần xây dựng chính  sách  tốt. Nó  đòi  hỏi  khả năng  liên  tục  nâng  cấp  và  cải thiện  các  chính  sách  một  cách có hệ  thống cũng như quá  trình thực hiện chính sách có hiệu quả qua  thời  gian.  Thiết  kế  và  thực hiện chính sách ở Việt Nam hiện nay  còn  nhiều  điểm  yếu.  Cách tiếp cận chính sách mới cần phải dựa trên số liệu khoa học để xây dựng các chính sách phù hợp với thực  tiễn và cần có quy  trình rõ ràng  để  theo  dõi,  đánh  giá  sự phù hợp và chất lượng của chính sách. Cần  củng  cố  và  phối  hợp tốt hơn công  tác  lập quy hoạch, kế hoạch. Cần phải xây dựng cơ chế và cơ quan đánh giá tác động chính sách. Sự phối hợp giữa các cơ quan Chính phủ trong thiết kế và thực hiện chính sách cần được tăng cường.
    Kỹ năng lao động có ý nghĩa quan trọng để xây dựng nền kinh tế có GTGT cao
    •  Năng  lực  bộ  máy  công  vụ:
    Muốn có các chính sách hiệu quả đòi hỏi phải có một bộ máy nhà nước có năng lực cao. Các cán bộ công  chức  được  đào  tạo  tốt  và các  cơ  quan  nhà  nước  có  thẩm quyền  và cơ cấu tổ  chức  phù hợp,  có  năng  lực  quản  lý  hiệu quả là những điều kiện tối quan trọng để  Chính  phủ  hoạt  động đạt hiệu quả  cao. Cách  tiếp  cận chính sách hiện nay ở Việt Nam vẫn  phản  ánh một mô  hình  tổ chức bộ máy nhà nước theo kiểu truyền thống. Việc thiếu một hệ thống đánh giá cán bộ minh bạch dựa  trên  năng  lực  và  hiệu  quả công việc và các quy tắc đạo đức nghề nghiệp đã hạn chế hiệu quả hoạt động của bộ máy công chức. Cách tiếp cận chính sách mới cần dựa trên những nỗ lực tổng hợp, toàn  diện  để  đưa  ra  giải  pháp hiện  đại  về  năng  lực  lãnh  đạo, đào  tạo  nguồn  nhân  lực,  tạo  cơ chế động lực thích hợp và cơ cấu tổ chức phù hợp.
    •  Phối  hợp  chính  sách  giữa trung ương và địa phương: Với quy mô và đặc điểm địa  lý  của Việt Nam, việc phân bổ hợp  lý, hiệu quả  quyền  hạn  và  trách  nhiệm giữa chính quyền trung ương và các địa phương là vô cùng quan trọng. Các công ty bao giờ cũng có cơ sở sản xuất kinh doanh đặt tại một địa phương nào đó, do đó họ sẽ chịu tác động tổng hợp của các  hiệu  ứng  chính  sách  từ  cấp trung  ương  tới  địa  phương.  Cơ cấu phân  cấp  và phối hợp hiện nay của Việt Nam hiện đang có nhiều  điểm  yếu.  Cách  tiếp  cận chính  sách  mới  cần  rà  soát  và xem xét lại cơ chế phân cấp hiện nay,  củng  cố,  tăng  cường  chức năng giám sát và kiểm soát chất lượng  của  chính  quyền  trung ương  đối  với  chính  quyền  các cấp  địa  phương.  Các  vùng  hay địa  phương  cần  được  khuyến khích nâng cao NLCT của mình dựa  trên  những  lợi  thế  và  định vị đặc thù của địa phương. Thay vì cạnh tranh, cần khuyến khích mạnh sự hợp tác, kết hợp và làm lợi  lẫn nhau  giữa  các  tỉnh, nhất là các tỉnh trong cùng một vùng, thông  qua  các  chính  sách  phát triển cụm ngành.
     
    Triển khai thực hiện
    Việc  lên  một  trình  tự  thực hiện  các  nhiệm  vụ  trong  chiến lược nâng cao NLCT không chỉ là một kỹ thuật thực hiện, mà còn là một nhiệm vụ quan trọng. Trước hết,  Chính  phủ  không  thể  cải tiến hay  thay đổi  tất  cả  các mặt của  NLCT  cùng  một  lúc.  Điều này  sẽ  vượt  quá  khả  năng  của các chính phủ và thường sẽ dẫn tới  thất  bại.  Đối  với  Việt Nam, thách  thức  này  càng  lớn  hơn  vì nền kinh  tế Việt Nam đang  cần chuyển đổi từ một nền tảng cạnh tranh với các lợi thế hiện tại sang một nấc thang mới với các lợi thế mới. Thứ hai, hiệu quả của một cải  cách  thường  phụ  thuộc  vào các bước cải cách được tiến hành song  song  hay  trước  đó.  Nếu không có một trình tự thực hiện đúng, sẽ mất nhiều thời gian hơn để đạt được kết quả. Trong  thời gian đó, ý chí và quyết tâm chính trị để theo đuổi cải cách có thể bị giảm sút nếu không có đủ và có kịp thời những kết quả hay bằng chứng  thuyết  phục. Do  đó,  xác định được một  trình  tự cải cách hợp lý là một yếu tố quan trọng của  một  chiến  lược  nâng  cao NLCT bền vững.
     
    Đối với Việt Nam,  chúng  tôi đề  xuất một  quá  trình  cải  cách theo  hướng  tăng  dần.  Ban  đầu, những thay đổi về NLCT sẽ được dẫn dắt bởi một số hoạt động ở quy mô  thí  điểm. Dần  dần,  các giải pháp mới  từ việc  thực hiện thí  điểm  sẽ  được  nhân  rộng  ra ở quy mô quốc gia và mở ra các lĩnh vực chính sách khác. Ở giai đoạn  cuối  cùng  sẽ  là  các  thay đổi về cơ cấu  thể chế trong việc hoạch định chính sách. Ngoại lệ duy nhất  trong  cách  tiếp  cận  từ dưới lên này là nhóm các vấn đề về mất cân đối vĩ mô sẽ cần được giải quyết ngay vì tính cấp thiết của nó. Để có thể khắc phục được một  cách  hữu  hiệu    những mất cân đối vĩ mô,    cần  có  các  thay đổi trên tất  cả các cấp độ từ  các biện pháp  riêng  lẻ đến  các  thay đổi trong chính sách, và cải cách cơ cấu thể chế; và tất cả cần được thực hiện trong một khoảng thời gian tương đối ngắn.
    Để  việc  thực  hiện  chương trình  hành  động  về  nâng  cao NLCT  có  kết  quả,  cần  phải  xác định và phân  công  thẩm quyền và trách nhiệm một cách rõ ràng đối  với  từng  giải  pháp  cải  cách cũng như đối với toàn bộ chương trình  hành  động.  Thứ  nhất,  đối với mỗi sáng kiến cải cách cụ thể cần  có một  cơ  quan  hay  nhóm công tác chịu trách nhiệm chính về triển khai thực hiện sáng kiến đó. Thứ hai, cần có một cơ quan ở vị  trí  trung  tâm  của hệ  thống nhằm  quản  lý  toàn  bộ  các  hoạt động,  chương  trình  cải  cách, để đảm bảo rằng những nhiệm vụ, hoạt  động  quan  trọng  nhất  sẽ được  ưu  tiên  thực  hiện  và  các nhiệm vụ, hoạt động khác sẽ được triển khai ở thời điểm thích hợp.
     
    Dựa trên  kinh  nghiệm  của nhiều  quốc  gia  khác,  chúng tôi đề  xuất  thành  lập Hội đồng Năng  lực Cạnh  tranh Việt Nam (VCC) để đảm nhận vai trò này. Hội đồng sẽ  làm nhiệm vụ điều phối,  hỗ  trợ  các  cơ  quan  chính phủ và các dự án phối hợp công -  tư  trong việc  thực hiện các  cải cách  và  sáng  kiến  được  đề  ra trong  chương  trình  hành  động nâng cao NLCT. Hội đồng cũng sẽ  giám  sát  và  báo  cáo  với  các cơ quan có  liên quan của Đảng, Chính  phu,  và  cộng  đồng  về tiến trình thực hiện chương trình nâng  cao  NLCT.  Để  thực  hiện những nhiệm vụ trên, Hội đồng có  các  thành viên gồm đại diện lãnh đạo của các Bộ, cơ quan chủ chốt của Chính phủ, lãnh đạo các DN, cả trong nước và nước ngoài. Hội đồng  sẽ do Thủ  tướng  chủ trì và có một Ban Thư ký chuyên trách và nguồn  lực phù hợp để hoạt động.
     
    Kết luận
    Tăng  trưởng  của  Việt  Nam từ  giữa  những  năm  1980  được dẫn dắt bởi  sự  chuyển đổi  sang nền kinh tế thị trường và chuyển dịch cơ cấu một cách  toàn diện. Quá trình chuyển đổi này đã làm thay đổi phương thức điều hành nền kinh tế từ kế hoạch hoá sang vận hành theo thị trường, mở cửa và hội nhập với nền kinh tế toàn cầu. Chuyển dịch cơ cấu đã làm thay đổi cấu trúc của nền kinh tế, dịch chuyển hàng triệu người từ khu vực nông nghiệp tự cung tự cấp  sang  sản  xuất  công  nghiệp và  dịch  vụ.  Cả  hai  sự  chuyển dịch này đã cho phép các lợi thế cạnh  tranh  tiềm  ẩn,  đặc  biệt  là lực  lượng  lao động rẻ, được bộc lộ và phát huy. Tăng trưởng, do đó,  được  kích  hoạt  bởi  những thay đổi vĩ mô tác động tới toàn hệ thống này. Cho đến nay, trọng tâm của chính sách chủ yếu  tập trung vào gia  tăng đầu  tư, nhất là đầu tư vào DNNN và cơ sở hạ tầng, để tạo ra tăng trưởng hơn là dựa trên năng suất và hiệu quả.
    Tuy nhiên,  những  phân  tích trong báo cáo này cho thấy tăng trưởng  hiện  tại  của  Việt  Nam đang dựa trên một mô hình kinh tế mà dư địa còn lại không nhiều. Với mô hình này, mức độ phồn thịnh  cao nhất mà Việt Nam  có thể đạt tới sẽ bị giới hạn bởi mức năng suất mà các lao động thiếu kỹ năng có thể có được trong các hoạt động sản xuất chế biến, chế tạo. Nếu Việt Nam  không  vượt qua được cách  thức  tăng  trưởng hiện  nay,  quốc  gia  sẽ  bị  tắc  ở mức thu nhập trung bình thấp và phải đối mặt với sự cạnh tranh từ các nước thu nhập thấp hơn mới trỗi dậy. Hơn nữa, việc quá phụ thuộc vào nguồn vốn bên ngoài để gia tăng đầu tư nhằm tạo tăng trưởng sẽ tạo ra các mất cân đối vĩ mô nguy hiểm và có  thể dẫn tới khủng hoảng.
     
    Hiện nay, đã có sự thống nhất quan  điểm  cho  rằng  Việt  Nam cần  điều  chỉnh  từ  tăng  trưởng dựa  trên  lao động giá  rẻ và gia tăng đầu tư vốn sang tăng trưởng dựa  vào  năng  suất,  hiệu  quả và năng  lực  cạnh  tranh  của nền kinh  tế.  Tăng  trưởng  tương  lai của Việt Nam  cần vượt  lên  trên việc khai thác những  lợi  thế sẵn có để nâng cấp những lợi thế này và tạo dựng các lợi thế mới. Điều này  đòi  hỏi  phải  thay  đổi  các điều kiện vĩ mô và vi mô dẫn dắt năng suất. Tầm nhìn mới này sẽ là tiền đề quan trọng để Việt Nam chuyển  dịch  lên  giai  đoạn  phát triển mới một cách bền vững.
     
    TS. Nguyễn Đình Cung
    Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM)
    Ý KIẾN BẠN ĐỌC
    Telex   VNI  
    Name:
    *
    Address:
    Phone:
    Email:
    *
    Content:
    *