
Tăng trưởng tương lai vừa phải dựa trên những lợi thế hiện có vừa phải tạo dựng những lợi thế cạnh tranh mới
Những khuyến nghị chính sách chủ yếu
Điều chỉnh chính sách trong thời kỳ hiện nay không có nghĩa là phủ nhận các chính sách trong quá khứ. Đó chỉ là một dấu hiệu thích ứng với sự thay đổi của bản thân quốc gia, cũng như của môi trường xung quanh: Những gì đã phát huy tác dụng trong quá khứ không có nghĩa là sẽ tiếp tục phát huy tác dụng trong tương lai. Thay đổi cách tiếp cận trong chính sách không chỉ là thay đổi chi tiết, nội dung của các chính sách mà còn là việc áp dụng các nguyên tắc mới - những nguyên tắc sẽ chỉ đạo và chi phối việc xây dựng các chính sách cụ thể và đưa chúng vào triển khai thực hiện. Ba nguyên tắc dưới đây là đặc biệt quan trọng và định hình ba sự chuyển đổi lớn Việt Nam cần thực hiện.
Chính phủ tạo điều kiện và đảm bảo để thị trường vận hành theo những nguyên tắc của nó
Trước hết, tăng trưởng tương lai của Việt Nam cần vượt lên trên việc khai thác những lợi thế sẵn có; tức là phải vừa dựa trên việc nâng cấp những lợi thế hiện có và tạo dựng các lợi thế cạnh tranh mới. Điều này đòi hỏi phải thay đổi các điều kiện vĩ mô và vi mô thúc đẩy tăng năng suất lao động. Những thảo luận chính sách hiện nay ở Việt Nam hầu như chưa hướng tới mục tiêu này. Trọng tâm chính sách vẫn đang hướng nhiều vào duy trì tốc độ tăng trưởng ngắn hạn về lượng hơn là duy trì tăng trưởng dựa trên nâng cao năng suất trong dài hạn, mang tính bền vững. Nhiều chính sách vĩ mô có thể kích thích tăng trưởng ngắn hạn nhưng lại không có tác dụng hoặc thậm chí gây ảnh hưởng tiêu cực tới tăng trưởng năng suất dài hạn của nền kinh tế.
Thứ hai, Chính phủ Việt Nam cần xác định được một vai trò mới cho mình, phù hợp với yêu cầu của một nền kinh tế thị trường năng động, đang trỗi dậy và đang hội nhập ngày càng sâu rộng. Với vai trò này, Chính phủ sẽ đảm nhận những công việc tạo điều kiện và đảm bảo thị trường được vận hành theo nguyên tắc của nó. Chính phủ sẽ cung cấp một môi trường thể chế minh bạch và hiệu quả trong đó các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần cạnh tranh với nhau một cách bình đẳng trên mọi mặt. Chính phủ cần một cách tiếp cận hiệu quả trong việc cung cấp các hàng hoá, dịch vụ công như cơ sở hạ tầng, giáo dục, và các quy định chính sách để vừa phản ánh được ý chí chính trị của mình vừa phản ánh được nhu cầu của các DN và người dân. Tóm lại, vai trò của Chính phủ cần hướng tới tạo ra một điểm đến kinh doanh với các lợi thế cạnh tranh rõ ràng. Những thảo luận chính sách hiện nay ở Việt Nam thường tập trung quá nhiều vào quy mô và quyền lực trực tiếp của Chính phủ, hơn là vào khả năng thực hiện những chức năng cần thiết của Chính phủ.
Thứ ba, Việt Nam cần tạo lập một môi trường kinh tế có sự hiện diện cân bằng, hài hoà của cả khu vực DN nhà nước, tư nhân và nước ngoài. Cần có sự cạnh tranh bình đẳng giữa các khu vực này, từ đó cho phép những DN có đóng góp nhiều nhất vào sự thịnh vượng và hiệu quả của nền kinh tế được phát triển. Thảo luận chính sách hiện nay tại Việt Nam thường tập trung vào quan điểm chính trị về sở hữu. Thực ra, cấu trúc thị trường, gồm những yếu tố như mức độ cạnh tranh, quan trọng hơn nhiều so với yếu tố sở hữu trong việc quyết định mức năng suất của một DN. Việc quản lý điều hành các DN nhà nước phải minh bạch, vai trò của Chính phủ với tư cách là chủ sở hữu phải tách biệt hoàn toàn khỏi vai trò là người điều tiết và ra quy định, và các DNNN phải tuân thủ các quy luật và kỷ luật thị trường như các thành phần kinh tế khác.
Các khuyến nghị cụ thể
Việt Nam cần một phương pháp tiếp cận đồng bộ và hiệu quả trong việc xây dựng các chính sách kinh tế vĩ mô nhằm đối phó với những rủi ro do các mất cân đối vĩ mô gây ra. Dưới đây là một số gợi ý chính sách cụ thể:
• Sự minh bạch về tài khoá của Chính phủ và các DNNN: Việt Nam cần xây dựng một cơ quan độc lập chịu trách nhiệm cung cấp các thông tin, số liệu minh bạch và chính xác về thực trạng của nền kinh tế. Các DNNN phảituân thủ các quy định chặt chẽ về công bố thông tin như các thành phần kinh tế khác, đặc biệt là thông tin về kết quả tài chính của DN, hiệu quả hoạt động, các mối liên hệ về tài chính với Chính phủ, v.v.
• Củng cố quản lý tài chính công: Quản lý ngân sách cần đảm bảo minh bạch và kỷ luật nhằm duy trì cán cân ngân sách bền vững và giảm thiểu các khoản chi ngoài ngân sách. Tăng cường chất lượng và hiệu quả trong quản lý nợ công. Trong đầu tư công, cần tuân thủ nguyên tắc công khai minh bạch và giám sát độc lập.
• Chính sách tiền tệ nhất quán và có thể dự đoán được: Cần làm rõ sự phối hợp về chính sách tiền tệ giữa cả ba cấp, Quốc hội, Chính phủ và NHNN. NHNN theo đó cần đưa ra những tín hiệu rõ ràng về mục tiêu chính sách chính, như lạm phát, và các mục tiêu về tăng trưởng tín dụng và cung tiền. Qua thời gian, sự độc lập, tự chủ và năng lực của NHNN với tư cách là một ngân hàng trung ương cần được củng cố.
• Quản lý thị trường tài chính: Việt Nam cần xây dựng một khung pháp lý hoàn thiện, chặt chẽ để giảm thiểu cơ hội phát sinh các hành vi đầu cơ, đồng thời đưa thị trường phát triển lên một cấp độ cao hơn. NHNN cần giám sát chặt chẽ hệ thống tài chính để đảm bảo sự lành mạnh của thị trường và các định chế tài chính.
• Phối hợp đồng bộ các chính sách vĩ mô: Hội đồng Tư vấn Chính sách Tài chính Tiền tệ Quốc gia có thể đóng vai trò quan trọng trong việc điều phối và kết nối đồng bộ các chính sách vĩ mô giữa các bộ, ngành. Chức năng nhiệm vụ và hoạt động của Hội đồngcần được nâng cấp và củng cố để có thể định hướng và điều phối các mục tiêu chính sách trung và dài hạn, chứ không chỉ để tìm kiếm các giải pháp tình thế nhằm đối phó và xử lý những khủng hoảng hay vấn đề trước mắt. Việt Nam cần các chính sách vi mô để có thể giải quyết nhanh và hiệu quả các nút thắt cổ chai tại những vùng hay những ngành mà vấn đề đang trở nên cấp thiết nhất. Để giải quyết triệt để những thách thức này, cần có sự thay đổi đồng loạt trên nhiều lĩnh vực cả về chính sách và thể chế. Trong khi đó, Chính phủ vẫn cần tìm ra câu trả lời nhanh và hiệu quả để tạm thời gỡ những nút thắt này thông qua các sáng kiến liên kết công - tư:
• Các dự án thí điểm lấy cụm ngành làm trung tâm: Việc thiếu một cơ chế đối thoại thường xuyên giữa các cơ quan chính phủ là một trong những rào cản lớn nhất trong việc tháo gỡ các nút thắt cổ chai. Bước đầu có thể thực hiện một vài sáng kiến thí điểm về cụm ngành với tiêu chí lựa chọn là các cụm ngành đó đang đối mặt với những vấn đề tương đối lớn, nếu giải quyết được sẽ có ý nghĩa tác động tới một số lượng đáng kể các doanh nghiệp và có sự sẵn sàng hợp tác giữa các doanh nghiệp và các cơ quan chính quyền để cùng giải quyết vấn đề.
Việt Nam cần một chiến lược kinh tế tổng thể nhằm nâng cao NLCT và đưa đất nước tiến lên giai đoạn phát triển mới với những lợi thế cạnh tranh mới. Chiến lược này cần hướng tới việc định vị Việt Nam như thế nào trong nền kinh tế toàn cầu.
Để đạt tới điểm đích đó, sẽ cần điều chỉnh không chỉ nội dung các chính sách có liên quan mà cả cách thức xây dựng và thực hiện các chính sách. Báo cáo này không có tham vọng vạch ra những chi tiết cụ thể về định vị nền kinh tế Việt Nam trong tương lai. Nhưng dù với kịch bản định vị nào, cũng sẽ có một số lĩnh vực căn bản quan trọng cần thay đổi. Dưới đây là những lĩnh vực chính sách quan trọng nhất cần tập trung cải cách.
Các chính sách cụ thể
• Giáo dục và kỹ năng lao động: Kỹ năng lao động có ý nghĩa quan trọng đối với việc xây dựng nền kinh tế giá trị gia tăng cao. Cách tiếp cận hiện nay không giải quyết được vấn đề, cả về số lượng, chất lượng và sự phù hợp của giáo dục và các kỹ năng lao động. Một cách tiếp cận mới đối với vấn đề giáo dục và đặc biệt là vấn đề kỹ năng lao động là phải tập trung nhấn mạnh vai trò của giáo dục như là yếu tố trung tâm quyết định việc tăng năng suất lao động cao hơn.
•Cơ sở hạ tầng: Hạ tầng giao thông, viễn thông và năng lượng là một điều kiện quan trọng khác để Việt Nam có thể phát triển được nền kinh tế giá trị gia tăng cao. Cách tiếp cận chính sách hiện nay đã giúp nâng cấp đáng kể cơ sở hạ tầng kỹ thuật của Việt Nam. Nhưng chi phí đầu tư hạ tầng cao, tác động của đầu tư hạ tầng đối với việc nâng cao NLCT còn hạn chế và nhu cầu của nền kinh tế đang tăng nhanh hơn cả tốc độ xây dựng hạ tầng. Cách tiếp cận chính sách mới về đầu tư hạ tầng cần đánh giá một cách có hệ thống các dự án đầu tư hạ tầng và ưu tiên, tập trung đầu tư vào các dự án đóng góp lớn nhất vào việc cải thiện NLCT quốc gia.
• Quản trị DNNN: Các DNNN vẫn là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam và sẽ vẫn tiếp tục giữ vai trò này trong thời gian tới. Cách tiếp cận chính sách hiện nay trong quản lý DNNN không tạo ra được các DN mạnh, có NLCT cao như mong đợi ban đầu của các nhà hoạch định chính sách. Cách tiếp cận chính sách mới cần tập trung vào tăng cường hiệu lực quản trị DNNN và tách biệt vai trò của nhà nước với tư cách là chủ sở hữu với tư cách quản lý, điều tiết. Với vai trò là chủ sở hữu, Chính phủ cần xác định cụ thể, rõ ràng các mục tiêu mà DNNN cần phải đạt được. Các DNNN cần phải chịu các áp lực cạnh tranh giống như các thành phần kinh tế khác (tư nhân trong nước hay nước ngoài).
• Thu hút FDI: Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một trong những động lực dẫn dắt tăng trưởng của Việt Nam thời gian qua. Cách tiếp cận chính sách trong thu hút FDI hiện nay còn thụ động và nhắm tới việc thu hút được nhiều vốn đăng ký (vốn cam kết). Nhưng giá trị mà FDI thu hút được mang lại cho Việt Nam là chưa đủ. Cách tiếp cận chính sách mới về FDI cần tập trung vào vốn FDI thực hiện hay giải ngân hơn là vốn đăng ký, nhấn mạnh hơn vào giám sát, theo dõi sau giải ngân một cách có hiệu quả. Công tác thu hút FDI cần được tách biệt khỏi công tác quản lý cấp phép. Cần phải nhìn nhận FDI là một công cụ để củng cố NLCT của Việt Nam.
• Chính sách phát triển ngành/cụm ngành: Nâng cao NLCT đòi hỏi phải có sự chuyên môn hoá cao trong những lĩnh vực mà ở đó sự hiện diện của các hoạt động/DN hỗ trợ hay có liên quan sẽ giúp tạo mức năng suất cao hơn mức một DN riêng lẻ có thể đạt được. Cách tiếp cận chính sách hiện nay vẫn dựa vào việc xây dựng các DNNN trở thành các tập đoàn anh cả của quốc gia, cấp tín dụng ưu đãi cho các công ty riêng lẻ và xây dựng những khu vực có hạ tầng hoàn chỉnh và chuyên biệt. Cách tiếp cận chính sách mới cần tập trung vào các cụm ngành thay vì các công ty riêng lẻ. Mục tiêu của chính sách là tăng năng suất, chứ không phải tăng lợi nhuận của một vài công ty đơn lẻ nào đó. Chính phủ cần khuyến khích các DN trong cụm ngành cạnh tranh ở mức độ cao hơn thay vì bảo hộ cho họ tránh khỏi áp lực cạnh tranh.
Kiến trúc thể chế
• Quy trình chính sách: Để có được các chính sách hiệu quả trong những lĩnh vực đã đề cập ở trên đây và các lĩnh vực khác, đòi hỏi quy trình thiết kế và thực hiện chính sách phải hiệu quả và khoa học. NLCT đạt được không phải chỉ bằng một lần xây dựng chính sách tốt. Nó đòi hỏi khả năng liên tục nâng cấp và cải thiện các chính sách một cách có hệ thống cũng như quá trình thực hiện chính sách có hiệu quả qua thời gian. Thiết kế và thực hiện chính sách ở Việt Nam hiện nay còn nhiều điểm yếu. Cách tiếp cận chính sách mới cần phải dựa trên số liệu khoa học để xây dựng các chính sách phù hợp với thực tiễn và cần có quy trình rõ ràng để theo dõi, đánh giá sự phù hợp và chất lượng của chính sách. Cần củng cố và phối hợp tốt hơn công tác lập quy hoạch, kế hoạch. Cần phải xây dựng cơ chế và cơ quan đánh giá tác động chính sách. Sự phối hợp giữa các cơ quan Chính phủ trong thiết kế và thực hiện chính sách cần được tăng cường.
Kỹ năng lao động có ý nghĩa quan trọng để xây dựng nền kinh tế có GTGT cao |
• Năng lực bộ máy công vụ: Muốn có các chính sách hiệu quả đòi hỏi phải có một bộ máy nhà nước có năng lực cao. Các cán bộ công chức được đào tạo tốt và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và cơ cấu tổ chức phù hợp, có năng lực quản lý hiệu quả là những điều kiện tối quan trọng để Chính phủ hoạt động đạt hiệu quả cao. Cách tiếp cận chính sách hiện nay ở Việt Nam vẫn phản ánh một mô hình tổ chức bộ máy nhà nước theo kiểu truyền thống. Việc thiếu một hệ thống đánh giá cán bộ minh bạch dựa trên năng lực và hiệu quả công việc và các quy tắc đạo đức nghề nghiệp đã hạn chế hiệu quả hoạt động của bộ máy công chức. Cách tiếp cận chính sách mới cần dựa trên những nỗ lực tổng hợp, toàn diện để đưa ra giải pháp hiện đại về năng lực lãnh đạo, đào tạo nguồn nhân lực, tạo cơ chế động lực thích hợp và cơ cấu tổ chức phù hợp.
• Phối hợp chính sách giữa trung ương và địa phương: Với quy mô và đặc điểm địa lý của Việt Nam, việc phân bổ hợp lý, hiệu quả quyền hạn và trách nhiệm giữa chính quyền trung ương và các địa phương là vô cùng quan trọng. Các công ty bao giờ cũng có cơ sở sản xuất kinh doanh đặt tại một địa phương nào đó, do đó họ sẽ chịu tác động tổng hợp của các hiệu ứng chính sách từ cấp trung ương tới địa phương. Cơ cấu phân cấp và phối hợp hiện nay của Việt Nam hiện đang có nhiều điểm yếu. Cách tiếp cận chính sách mới cần rà soát và xem xét lại cơ chế phân cấp hiện nay, củng cố, tăng cường chức năng giám sát và kiểm soát chất lượng của chính quyền trung ương đối với chính quyền các cấp địa phương. Các vùng hay địa phương cần được khuyến khích nâng cao NLCT của mình dựa trên những lợi thế và định vị đặc thù của địa phương. Thay vì cạnh tranh, cần khuyến khích mạnh sự hợp tác, kết hợp và làm lợi lẫn nhau giữa các tỉnh, nhất là các tỉnh trong cùng một vùng, thông qua các chính sách phát triển cụm ngành.
Triển khai thực hiện
Việc lên một trình tự thực hiện các nhiệm vụ trong chiến lược nâng cao NLCT không chỉ là một kỹ thuật thực hiện, mà còn là một nhiệm vụ quan trọng. Trước hết, Chính phủ không thể cải tiến hay thay đổi tất cả các mặt của NLCT cùng một lúc. Điều này sẽ vượt quá khả năng của các chính phủ và thường sẽ dẫn tới thất bại. Đối với Việt Nam, thách thức này càng lớn hơn vì nền kinh tế Việt Nam đang cần chuyển đổi từ một nền tảng cạnh tranh với các lợi thế hiện tại sang một nấc thang mới với các lợi thế mới. Thứ hai, hiệu quả của một cải cách thường phụ thuộc vào các bước cải cách được tiến hành song song hay trước đó. Nếu không có một trình tự thực hiện đúng, sẽ mất nhiều thời gian hơn để đạt được kết quả. Trong thời gian đó, ý chí và quyết tâm chính trị để theo đuổi cải cách có thể bị giảm sút nếu không có đủ và có kịp thời những kết quả hay bằng chứng thuyết phục. Do đó, xác định được một trình tự cải cách hợp lý là một yếu tố quan trọng của một chiến lược nâng cao NLCT bền vững.
Đối với Việt Nam, chúng tôi đề xuất một quá trình cải cách theo hướng tăng dần. Ban đầu, những thay đổi về NLCT sẽ được dẫn dắt bởi một số hoạt động ở quy mô thí điểm. Dần dần, các giải pháp mới từ việc thực hiện thí điểm sẽ được nhân rộng ra ở quy mô quốc gia và mở ra các lĩnh vực chính sách khác. Ở giai đoạn cuối cùng sẽ là các thay đổi về cơ cấu thể chế trong việc hoạch định chính sách. Ngoại lệ duy nhất trong cách tiếp cận từ dưới lên này là nhóm các vấn đề về mất cân đối vĩ mô sẽ cần được giải quyết ngay vì tính cấp thiết của nó. Để có thể khắc phục được một cách hữu hiệu những mất cân đối vĩ mô, cần có các thay đổi trên tất cả các cấp độ từ các biện pháp riêng lẻ đến các thay đổi trong chính sách, và cải cách cơ cấu thể chế; và tất cả cần được thực hiện trong một khoảng thời gian tương đối ngắn.
Để việc thực hiện chương trình hành động về nâng cao NLCT có kết quả, cần phải xác định và phân công thẩm quyền và trách nhiệm một cách rõ ràng đối với từng giải pháp cải cách cũng như đối với toàn bộ chương trình hành động. Thứ nhất, đối với mỗi sáng kiến cải cách cụ thể cần có một cơ quan hay nhóm công tác chịu trách nhiệm chính về triển khai thực hiện sáng kiến đó. Thứ hai, cần có một cơ quan ở vị trí trung tâm của hệ thống nhằm quản lý toàn bộ các hoạt động, chương trình cải cách, để đảm bảo rằng những nhiệm vụ, hoạt động quan trọng nhất sẽ được ưu tiên thực hiện và các nhiệm vụ, hoạt động khác sẽ được triển khai ở thời điểm thích hợp.
Dựa trên kinh nghiệm của nhiều quốc gia khác, chúng tôi đề xuất thành lập Hội đồng Năng lực Cạnh tranh Việt Nam (VCC) để đảm nhận vai trò này. Hội đồng sẽ làm nhiệm vụ điều phối, hỗ trợ các cơ quan chính phủ và các dự án phối hợp công - tư trong việc thực hiện các cải cách và sáng kiến được đề ra trong chương trình hành động nâng cao NLCT. Hội đồng cũng sẽ giám sát và báo cáo với các cơ quan có liên quan của Đảng, Chính phu, và cộng đồng về tiến trình thực hiện chương trình nâng cao NLCT. Để thực hiện những nhiệm vụ trên, Hội đồng có các thành viên gồm đại diện lãnh đạo của các Bộ, cơ quan chủ chốt của Chính phủ, lãnh đạo các DN, cả trong nước và nước ngoài. Hội đồng sẽ do Thủ tướng chủ trì và có một Ban Thư ký chuyên trách và nguồn lực phù hợp để hoạt động.
Kết luận
Tăng trưởng của Việt Nam từ giữa những năm 1980 được dẫn dắt bởi sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và chuyển dịch cơ cấu một cách toàn diện. Quá trình chuyển đổi này đã làm thay đổi phương thức điều hành nền kinh tế từ kế hoạch hoá sang vận hành theo thị trường, mở cửa và hội nhập với nền kinh tế toàn cầu. Chuyển dịch cơ cấu đã làm thay đổi cấu trúc của nền kinh tế, dịch chuyển hàng triệu người từ khu vực nông nghiệp tự cung tự cấp sang sản xuất công nghiệp và dịch vụ. Cả hai sự chuyển dịch này đã cho phép các lợi thế cạnh tranh tiềm ẩn, đặc biệt là lực lượng lao động rẻ, được bộc lộ và phát huy. Tăng trưởng, do đó, được kích hoạt bởi những thay đổi vĩ mô tác động tới toàn hệ thống này. Cho đến nay, trọng tâm của chính sách chủ yếu tập trung vào gia tăng đầu tư, nhất là đầu tư vào DNNN và cơ sở hạ tầng, để tạo ra tăng trưởng hơn là dựa trên năng suất và hiệu quả.
Tuy nhiên, những phân tích trong báo cáo này cho thấy tăng trưởng hiện tại của Việt Nam đang dựa trên một mô hình kinh tế mà dư địa còn lại không nhiều. Với mô hình này, mức độ phồn thịnh cao nhất mà Việt Nam có thể đạt tới sẽ bị giới hạn bởi mức năng suất mà các lao động thiếu kỹ năng có thể có được trong các hoạt động sản xuất chế biến, chế tạo. Nếu Việt Nam không vượt qua được cách thức tăng trưởng hiện nay, quốc gia sẽ bị tắc ở mức thu nhập trung bình thấp và phải đối mặt với sự cạnh tranh từ các nước thu nhập thấp hơn mới trỗi dậy. Hơn nữa, việc quá phụ thuộc vào nguồn vốn bên ngoài để gia tăng đầu tư nhằm tạo tăng trưởng sẽ tạo ra các mất cân đối vĩ mô nguy hiểm và có thể dẫn tới khủng hoảng.
Hiện nay, đã có sự thống nhất quan điểm cho rằng Việt Nam cần điều chỉnh từ tăng trưởng dựa trên lao động giá rẻ và gia tăng đầu tư vốn sang tăng trưởng dựa vào năng suất, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Tăng trưởng tương lai của Việt Nam cần vượt lên trên việc khai thác những lợi thế sẵn có để nâng cấp những lợi thế này và tạo dựng các lợi thế mới. Điều này đòi hỏi phải thay đổi các điều kiện vĩ mô và vi mô dẫn dắt năng suất. Tầm nhìn mới này sẽ là tiền đề quan trọng để Việt Nam chuyển dịch lên giai đoạn phát triển mới một cách bền vững.
TS. Nguyễn Đình Cung
Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM)