
TS, Nguyễn Đình Cung - Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM)
Bối cảnh ra đời
Ý tưởng về việc thực hiện một nghiên cứu sâu về năng lực cạnh tranh (NLCT) Việt Nam (VN) bắt nguồn từ cuộc gặp giữa Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và GS. Michael Porter tại Hà Nội cuối năm 2008. GS Porter có ấn tượng sâu sắc trước những thành tựu về tăng trưởng và giảm nghèo mà VN đạt được, nhưng cũng chỉ ra vị trí còn khiêm tốn của VN trên xếp hạng về NLCT toàn cầu là một dấu hiệu đáng quan ngại.
Năm 2009, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đề nghị Viện Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) và Học viện Năng lực Cạnh tranh Châu Á (ACI) của Xingapo phối hợp xây dựng báo cáo quốc gia đầu tiên của VN về NLCT. Báo cáo đánh giá toàn diện về NLCT của VN – đó là những nền tảng kinh tế quyết định sự thịnh vượng của quốc gia và người dân, phân tích những cơ hội và thách thức phía trước cũng như đề xuất một chiến lược kinh tế nhằm giúp VN đạt được một mức tăng trưởng cao và bền vững hơn.
Những phát hiện chính của Báo cáo
Báo cáo gồm 4 chương.
Chương 1 giới thiệu tổng quan về phương pháp luận.
Chương 2 xem xét các kết quả kinh tế của VN dưới góc độ là các chỉ tiêu biểu hiện NLCT.
Chương 3 đánh giá các yếu tố nền tảng của NLCT đã làm nên những kết quả kinh tế của VN ngày nay.
Chương 4 dựa trên các kết quả đánh giá trên để nhận diện ba nhóm nhiệm vụ quan trọng nhất VN cần thực hiện và các đề xuất cụ thể để nâng cao NLCT.
Các kết quả kinh tếNăng suất lao động của Việt Nam tăng nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với các nước khác |
VN đã đạt được tăng trưởng kinh tế ấn tượng trong hơn hai thập kỷ qua. Tỷ lệ nghèo đã giảm đáng kể trên cả nước. Bất bình đẳng vẫn giữ ở mức thấp, mặc dù gần đây có tăng lên. Chất lượng cuộc sống được cải thiện không chỉ nhờ thu nhập tăng lên mà còn nhờ việc tiếp cận các dịch vụ giáo dục và y tế được mở rộng.
Thu nhập bình quân đầu người của VN vừa chạm tới ngưỡng thu nhập trung bình thấp nhưng mức thu nhập tuyệt đối vẫn còn thấp hơn nhiều so với hơn 100 quốc gia khác trên thế giới. Sự chênh lệch về mức độ phát triển giữa các vùng miền đang tăng lên; những vùng phát triển và có mức tăng trưởng cao nhất là hai trung tâm kinh tế lớn - Tp Hồ Chí Minh và Hà Nội và các tỉnh lân cận, trong khi các vùng khác còn khoảng cách khá xa với hai trung tâm này.
Cơ sở hạ tầng được đầu tư lớn nhưng hiệu quả thấp |
Năng suất lao động của VN tăng lên, giúp dẫn dắt tăng trưởng, tuy nhiên nếu so sánh với nhiều quốc gia khác, năng suất của VN vẫn thấp hơn nhiều. Sự tăng năng suất lao động của VN chủ yếu là do kết quả của gia tăng vốn đầu tư cùng với sự dịch chuyển lao động từ nông nghiệp sang khu vực chế biến, chế tạo và và dịch vụ. Mặc dù quá trình này đã phát huy tác dụng trong thời gian qua và vẫn có thể phát huy tác dụng thêm một thời gian nữa, nhưng dư địa còn lại không nhiều.
Phân tích các chỉ số kinh tế cho thấy vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là một động lực chính thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu. Với sự dẫn dắt của đầu tư nước ngoài, XK đã tăng trưởng mạnh mẽ. Tuy nhiên, NK còn tăng mạnh hơn để phục vụ sản xuất hàng XK và nhu cầu nội địa. Giá trị gia tăng của khu vực XK còn thấp. Năng suất của các khu vực khác trong nền kinh tế còn khoảng cách khá xa so với năng suất của khu vực FDI.
Các yếu tố nền tảng của NLCT
Tăng trưởng của VN chủ yếu là do việc mở cửa thị trường đem lại; và quá trình mở cửa đã giúp VN khai thác được các lợi thế so sánh của mình – chủ yếu là lao động dồi dào và giá rẻ. Các yếu tố nền tảng của NLCT nhìn chung là phù hợp với mức độ thịnh vượng còn thấp của nền kinh tế.
Các yếu tố về thể chế chính trị và hạ tầng xã hội của VN nhìn chung tương đối vững chắc. Giáo dục và dịch vụ y tế cơ bản được cung cấp rộng rãi trên cả nước, là tiền đề quan trọng cho tăng trưởng kinh tế. Về hệ thống pháp luật, chất lượng các văn bản luật được cải thiện nhưng hiệu quả và hiệu lực thực thi còn yếu, sự độc lập của hệ thống tư pháp chưa cao. Hệ thống chính trị được đánh giá là ổn định nhưng còn thiếu hiệu quả trong các quyết định và hành động chính sách. Tình trạng tham nhũng chưa có dấu hiệu giảm đi.
Chính sách kinh tế vĩ mô là một điểm yếu lớn trong những năm gần đây. Chính sách tài khoá bị cản trở rất nhiều bởi các thâm hụt cơ cấu lớn của khu vực nhà nước. Nguồn tài trợ của các nhà tài trợ nước ngoài là quan trọng, nhưng không thể thay thế được cho việc xây dựng nền tảng tài chính vững chắc của Chính phủ. Áp lực liên tục lên tỷ giá, tỷ lệ lạm phát cao, cũng như sự phát triển nóng của thị trường tài chính trước khi nổ ra khủng hoảng tài chính toàn cầu là những dấu hiệu về một chính sách tiền tệ còn có vấn đề.
Các yếu tố điều kiện cầu đã được cải thiện nhưng vẫn chưa đủ để tạo ra các mức năng suất cao hơn. Các khoản đầu tư lớn vào cơ sở hạ tầng, đường xá, cảng, sân bay, năng lượng… đã được thực hiện, nhưng tác động kinh tế - xã hội của các công trình đem lại chưa rõ do hiệu quả thấp và thiếu trọng tâm trọng điểm trong đầu tư. Đầu tư hạ tầng được dùng để bù đắp cho các tỉnh có tăng trưởng kém hơn chứ không phải nhằm tạo ra hiệu quả và tác động cao nhất có thể.
Trình độ kỹ năng lao động còn thấp. Mặc dù các chương trình đào tạo ngày càng nhiều, chất lượng giáo dục vẫn còn thấp và có sự chênh lệch giữa các cơ sở. Sự phát triển của giáo dục đào tạo không theo kịp sự tăng trưởng nhu cầu của nền kinh tế. Quản lý nhà nước về giáo dục còn tập trung nhiều vào việc đặt ra các rào cản gia nhập thị trường đối với các cơ sở đào tạo nước ngoài và can thiệp hành chính, hơn là tập trung vào đảm bảo các tiêu chuẩn chất lượng của hệ thống giáo dục.
Mặc dù đã có một số cải thiện trong những năm gần đây, môi trường hành chính nói chung vẫn chưa thông thoáng. Điều này làm hạn chế sức hấp dẫn của VN đối với các nhà đầu tư. Một số sáng kiến cải cách lớn, ví dụ như Đề án 30, đang được thực hiện nhằm cải cách các thủ tục hành chính.
Nếu được thực hiện trọn vẹn như cam kết ban đầu, các sáng kiến này sẽ giúp cải thiện đáng kể môi trường hành chính.
Các thị trường tài chính còn non trẻ và chưa phát triển sâu. Các công ty tư nhân quy mô nhỏ còn gặp khó khăn trong tiếp cận vốn. Thị trường chứng khoán có nhiều biến động mạnh và thiếu minh bạch, đặc biệt là các thông tin về tình hình tài chính của các DN nhà nước.
Về bối cảnh cho chiến lược và cạnh tranh của DN, mức độ mở cửa thị trường lớn nhưng có sự chi phối về vai trò của các DN nhà nước trên nhiều lĩnh vực của nền kinh tế. Trong khi các công ty nước ngoài đánh giá môi trường ở Việt Nam là khá cởi mở thì các DN tư nhân trong nước lại đang phải chật vật khẳng định vai trò lớn hơn của mình trong nền kinh tế. Cạnh tranh chủ yếu vẫn tập trung về giá và đối đầu trực tiếp, chứ không phải dựa trên chất lượng và khác biệt hoá sản phẩm dịch vụ.
Các cụm liên kết ngành hình thành một cách tự phát chủ yếu là do các công ty quy tụ về mặt địa lý để thuận lợi cho việc tiến hành các hoạt động kinh tế tương tự nhau. Nhưng hoạt động và sự liên kết trong các cụm ngành chỉ tập trung vào một số lĩnh vực hẹp chứ chưa mở rộng ra các lĩnh vực bổ trợ và có liên quan khác. Sự phối hợp chủ động giữa các công ty trong cụm ngành còn hạn chế.
Những nhiệm vụ chính đặt ra với VN
VN đã đạt được mức tăng trưởng ấn tượng dựa trên mô hình chuyển dịch cơ cấu với sư dẫn dắt của FDI như hiện nay. Với một bộ phận lớn lực lượng lao động vẫn còn tập trung trong khu vực nông nghiệp, mô hình này vẫn còn phát huy tác dụng trong một vài năm tới. Tuy nhiên, chính sự bằng lòng với những thành tựu đã đạt được và triển vọng kinh tế tích cực lại là thách thức lớn nhất mà VN có thể phải đối mặt. Ba nhóm vấn đề quan trọng nhất mà VN phải giải quyết chính là biểu hiện của những hạn chế của mô hình tăng trưởng hiện nay. Những hạn chế này đặt ra một yêu cầu cấp thiết đối với Việt Nam là phải chuyển dịch sang một giai đoạn phát triển mới.
1. Các mất cân đối kinh tế vĩ mô
• Mất cân đối về cán cân thương mại và tài khoản vãng lai:
Thâm hụt thương mại của Việt Nam ngày càng tăng. Mặc dù được coi la một nền kinh tế định hướng XK, VN NK nhiều hơn XK một cách có hệ thống.
• Mất cân đối tiết kiệm – đầu tư:
Thâm hụt đối ngoại phải được bù đắp bằng các nguồn vốn bên ngoài như đầu tư trực tiếp nước ngoài, kiều hối, viện trợ pháttriển, và các nguồn khác. Quan ngại về khả năng trang trải các thâm hụt đối ngoại của VN ngày càng tăng với mức nợ công tăng lên và dự trữ ngoại hối giảm đi đáng kể, ảnh hưởng tới triển
vọng của nền kinh tế.
• Lạm phát và tỷ giá hối đoái:
Tỷ lệ lạm phát của VN trong những năm qua ngày càng dao động mạnh, với xu hướng tăng lên đáng kể. Những dòng vốn ngoại lớn đổ vào cùng với tăng trưởng tín dụng trong nước đã gây ra áp lực đáng kể đối với lạm phát. Khi VN vẫn duy trì tỷ giá danh nghĩa ở mức ổn định, lạm phát dẫn tới tỷ giá thực có hiệu lực tăng lên, buộc VN phải liên tục phá giá đồng tiền.
Những mất cân đối này có thể gây ra những hậu quả không thể xem thường. Ít nhất là chúng tạo ra tâm lý với các nhà đầu tư rằng rủi ro khi đầu tư vào VN là rất cao. Các mất cân đối vĩ mô này có thể làm phát sinh khủng hoảng, khi niềm tin bị xói mòn và các dòng vốn nước ngoài chảy khỏi VN. Khi đó, quốc gia sẽ phải trải qua quá trình điều chỉnh rất khó khăn và phải thay đổi hoàn toàn các chính sách về tỷ giá, cắt giảm chi tiêu công và đánh mất đi thành quả tăng trưởng của rất nhiều năm trước đó. Phản ứng chính sách gần đây của VN đã được quốc tế ghi nhận, nhưng phản ứng chính sách cho tới nay vẫn thiếu một chiến lược tổng thể để giải quyết các thách thức một cách toàn diện, có hệ thống.
(Còn tiếp)