• THƯƠNG MẠI THỦY SẢN - Số 133 | Tháng 01/2011

    Đây là báo cáo quốc gia đầu tiên đánh giá toàn diện và đưa ra các giải pháp cụ thể để nâng cao NLCT của VN. Báo cáo do CIEM phối hợp với Viện năng lực cạnh tranh Châu Á của GS M.I.Porter cùng xây dựng.

    TS, Nguyễn Đình Cung - Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM)
    Bối cảnh ra đời
    Ý tưởng về việc thực hiện một nghiên cứu sâu về năng lực cạnh tranh (NLCT)  Việt  Nam  (VN) bắt nguồn  từ cuộc gặp giữa Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và GS. Michael  Porter  tại  Hà  Nội  cuối năm 2008. GS Porter có ấn tượng sâu sắc trước những thành tựu về tăng  trưởng  và  giảm  nghèo mà VN đạt được, nhưng cũng chỉ ra vị trí còn khiêm tốn của VN trên xếp  hạng  về  NLCT  toàn  cầu  là một dấu hiệu đáng quan ngại.
     
    Năm  2009,  Phó  Thủ  tướng Hoàng  Trung Hải  đề  nghị Viện Quản  lý  Kinh  tế  Trung  ương (CIEM)  và  Học  viện  Năng  lực Cạnh  tranh  Châu  Á  (ACI)  của Xingapo  phối  hợp  xây  dựng báo  cáo  quốc  gia  đầu  tiên  của VN về NLCT. Báo  cáo đánh giá toàn diện về NLCT của VN – đó là những nền  tảng kinh  tế quyết định sự thịnh vượng của quốc gia và người dân, phân tích những cơ hội và thách thức phía trước cũng như đề xuất một chiến lược kinh tế nhằm giúp VN đạt được một mức tăng trưởng cao và bền vững hơn.
     
    Những phát hiện chính của Báo cáo
    Báo  cáo  gồm  4  chương.
    Chương  1  giới  thiệu  tổng  quan về phương pháp luận.
    Chương 2 xem  xét  các kết quả kinh  tế  của VN  dưới  góc  độ  là  các  chỉ  tiêu biểu hiện NLCT.
    Chương 3 đánh giá các yếu tố nền tảng của NLCT đã làm nên những kết quả kinh tế của VN ngày nay.
    Chương 4 dựa trên các kết quả đánh giá trên để nhận  diện  ba  nhóm  nhiệm  vụ quan trọng nhất VN cần thực hiện và các đề xuất cụ thể để nâng cao NLCT.
     
    Các kết quả kinh tế
    Năng suất lao động của Việt Nam tăng nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với các nước khác
    VN đã đạt được  tăng  trưởng kinh  tế  ấn  tượng  trong  hơn  hai thập kỷ qua. Tỷ lệ nghèo đã giảm đáng  kể  trên  cả  nước.  Bất  bình đẳng vẫn giữ ở mức thấp, mặc dù gần đây có  tăng  lên. Chất  lượng cuộc  sống được  cải  thiện  không chỉ nhờ thu nhập tăng lên mà còn nhờ việc tiếp cận các dịch vụ giáo dục và y tế được mở rộng. 
    Thu nhập bình quân đầu người của  VN  vừa  chạm  tới  ngưỡng thu nhập trung bình thấp nhưng mức  thu nhập  tuyệt đối vẫn còn thấp  hơn  nhiều  so  với  hơn  100 quốc  gia  khác  trên  thế  giới.  Sự chênh  lệch về mức độ phát triển giữa  các  vùng  miền  đang  tăng lên; những vùng phát triển và có mức  tăng  trưởng cao nhất  là hai trung tâm kinh tế lớn - Tp Hồ Chí Minh và Hà Nội và  các  tỉnh  lân cận, trong khi các vùng khác còn khoảng cách khá xa với hai trung tâm này.
     
    Cơ sở hạ tầng được đầu tư lớn nhưng hiệu quả thấp
    Năng  suất  lao  động  của VN  tăng  lên,  giúp dẫn dắt  tăng trưởng,  tuy  nhiên  nếu  so  sánh với  nhiều  quốc  gia  khác,  năng suất của VN vẫn thấp hơn nhiều. Sự  tăng năng  suất  lao động  của VN chủ yếu là do kết quả của gia tăng vốn đầu tư cùng với sự dịch chuyển lao động từ nông nghiệp sang  khu  vực  chế  biến,  chế  tạo và và dịch  vụ.  Mặc  dù  quá  trình này đã phát huy  tác dụng  trong thời gian qua và vẫn có thể phát huy tác dụng thêm một thời gian nữa, nhưng dư địa còn lại không nhiều.

    Phân  tích  các  chỉ  số  kinh  tế cho  thấy  vốn  đầu  tư  trực  tiếp nước ngoài là một động lực chính thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu. Với sự dẫn dắt của đầu tư nước ngoài, XK đã tăng trưởng mạnh mẽ. Tuy nhiên, NK còn tăng mạnh hơn để phục  vụ  sản  xuất  hàng  XK  và nhu cầu nội địa. Giá  trị gia  tăng của khu vực XK còn  thấp. Năng suất của các khu vực khác  trong nền kinh tế còn khoảng cách khá xa so với năng suất của khu vực FDI.

    Các yếu tố nền tảng của NLCT
    Tăng trưởng của VN chủ yếu là do việc mở cửa thị trường đem lại; và quá trình mở cửa đã giúp VN khai thác được các lợi thế so sánh  của mình  –  chủ  yếu  là  lao động dồi dào và giá rẻ. Các yếu tố nền tảng của NLCT nhìn chung là phù hợp với mức độ thịnh vượng còn thấp của nền kinh tế. 

    Các  yếu  tố  về  thể  chế  chính trị và hạ tầng xã hội của VN nhìn chung tương đối vững chắc. Giáo dục và dịch vụ y  tế cơ bản được cung  cấp  rộng  rãi  trên  cả  nước, là  tiền  đề  quan  trọng  cho  tăng trưởng kinh tế. Về hệ thống pháp luật, chất lượng các văn bản luật được cải thiện nhưng hiệu quả và hiệu lực thực thi còn yếu, sự độc lập  của  hệ  thống  tư  pháp  chưa cao.  Hệ  thống  chính  trị  được đánh  giá  là  ổn  định  nhưng  còn thiếu  hiệu  quả  trong  các  quyết định  và  hành  động  chính  sách. Tình  trạng  tham nhũng  chưa  có dấu hiệu giảm đi.
     
    Chính  sách  kinh  tế  vĩ mô  là một  điểm  yếu  lớn  trong  những năm gần đây. Chính sách tài khoá bị cản trở rất nhiều bởi các thâm hụt  cơ  cấu  lớn  của khu vực nhà nước. Nguồn  tài  trợ của các nhà tài trợ nước ngoài là quan trọng, nhưng  không  thể  thay  thế được cho  việc  xây  dựng  nền  tảng  tài chính vững chắc của Chính phủ. Áp lực liên tục lên tỷ giá, tỷ lệ lạm phát cao, cũng như sự phát triển nóng  của  thị  trường  tài  chính trước khi nổ  ra khủng hoảng  tài chính toàn cầu là những dấu hiệu về một chính sách  tiền  tệ còn có vấn đề.
    Các  yếu  tố  điều  kiện  cầu  đã được cải thiện nhưng vẫn chưa đủ để  tạo ra các mức năng suất cao hơn. Các khoản đầu tư lớn vào cơ sở  hạ  tầng, đường  xá,  cảng,  sân bay, năng  lượng… đã được  thực hiện, nhưng tác động kinh tế - xã hội  của  các  công  trình  đem  lại chưa rõ do hiệu quả thấp và thiếu trọng  tâm  trọng điểm  trong đầu tư.  Đầu  tư  hạ  tầng  được  dùng để  bù  đắp  cho  các  tỉnh  có  tăng trưởng kém hơn chứ không phải nhằm tạo ra hiệu quả và tác động cao nhất có thể.
     
    Trình  độ  kỹ  năng  lao  động còn  thấp.  Mặc  dù  các  chương trình  đào  tạo  ngày  càng  nhiều, chất lượng giáo dục vẫn còn thấp và  có  sự  chênh  lệch  giữa  các  cơ sở. Sự phát triển của giáo dục đào tạo không theo kịp sự tăng trưởng nhu cầu  của  nền  kinh  tế. Quản lý nhà nước về giáo dục còn  tập trung  nhiều  vào  việc  đặt  ra  các rào  cản  gia  nhập  thị  trường  đối với các cơ sở đào tạo nước ngoài và  can  thiệp hành  chính, hơn  là tập  trung  vào  đảm  bảo  các  tiêu chuẩn  chất  lượng  của  hệ  thống giáo dục.

    Mặc dù đã có một số cải thiện trong  những  năm  gần  đây, môi trường hành chính nói chung vẫn chưa thông thoáng. Điều này làm hạn chế sức hấp dẫn của VN đối với các nhà đầu  tư. Một số sáng kiến  cải  cách  lớn,  ví dụ  như Đề án 30, đang được thực hiện nhằm cải cách  các  thủ  tục hành  chính.
    Nếu được thực hiện trọn vẹn như cam  kết  ban  đầu,  các  sáng  kiến này sẽ giúp cải thiện đáng kể môi trường hành chính.

    Các  thị  trường  tài  chính  còn non  trẻ  và  chưa  phát  triển  sâu. Các công ty tư nhân quy mô nhỏ còn gặp khó khăn trong tiếp cận vốn. Thị  trường chứng khoán có nhiều  biến  động mạnh  và  thiếu minh bạch, đặc biệt  là các  thông tin về tình hình tài chính của các DN nhà nước.
    Về bối cảnh cho chiến lược và cạnh  tranh  của DN, mức độ mở cửa  thị  trường  lớn  nhưng  có  sự chi  phối  về  vai  trò  của  các  DN nhà nước trên nhiều lĩnh vực của nền kinh tế. Trong khi các công ty nước ngoài đánh giá môi trường ở Việt Nam là khá cởi mở thì các DN tư nhân trong nước  lại đang phải chật vật khẳng định vai trò lớn hơn của mình trong nền kinh tế. Cạnh  tranh  chủ  yếu  vẫn  tập trung về giá và đối đầu trực tiếp, chứ  không  phải  dựa  trên  chất lượng và khác biệt hoá sản phẩm dịch vụ. 
     
    Các  cụm  liên kết ngành hình thành một cách  tự phát chủ yếu là do  các  công  ty quy  tụ về mặt địa  lý để  thuận  lợi  cho việc  tiến hành các hoạt động kinh tế tương tự nhau. Nhưng hoạt động và sự liên kết trong các cụm ngành chỉ tập trung vào một số lĩnh vực hẹp chứ chưa mở rộng ra các lĩnh vực bổ  trợ  và  có  liên  quan  khác.  Sự phối hợp chủ động giữa các công  ty trong cụm ngành còn hạn chế.
     
    Những  nhiệm  vụ  chính  đặt  ra với VN
    VN  đã  đạt  được  mức  tăng trưởng  ấn  tượng  dựa  trên  mô hình  chuyển  dịch  cơ  cấu  với  sư dẫn  dắt  của  FDI  như  hiện  nay. Với một  bộ  phận  lớn  lực  lượng lao động vẫn còn tập trung trong khu  vực  nông  nghiệp, mô  hình này  vẫn  còn  phát  huy  tác  dụng trong một vài năm tới. Tuy nhiên, chính  sự  bằng  lòng  với  những thành  tựu  đã  đạt  được  và  triển vọng kinh tế tích cực lại là thách thức lớn nhất mà VN có thể phải đối mặt.  Ba  nhóm  vấn  đề  quan trọng nhất mà VN phải giải quyết chính là biểu hiện của những hạn chế của mô hình tăng trưởng hiện nay. Những  hạn  chế  này  đặt  ra một yêu cầu cấp thiết đối với Việt Nam  là  phải  chuyển  dịch  sang một giai đoạn phát triển mới.
     
    1. Các mất cân đối kinh tế vĩ mô
    • Mất cân đối về cán cân thương mại và tài khoản vãng lai:
    Thâm hụt thương mại  của Việt Nam  ngày càng  tăng.  Mặc  dù  được  coi  la  một nền kinh tế định hướng XK, VN NK nhiều hơn XK một  cách có hệ thống.

    • Mất cân đối tiết kiệm – đầu tư:
    Thâm  hụt  đối  ngoại  phải  được bù đắp bằng các nguồn vốn bên ngoài như đầu  tư  trực  tiếp nước ngoài,  kiều  hối,  viện  trợ  pháttriển,  và  các  nguồn  khác. Quan ngại  về  khả  năng  trang  trải  các thâm hụt đối ngoại của VN ngày càng  tăng với mức nợ công  tăng lên và dự  trữ ngoại hối giảm đi đáng kể,  ảnh  hưởng  tới  triển
    vọng của nền kinh tế.

    • Lạm phát và tỷ giá hối đoái:
    Tỷ lệ lạm phát của VN trong những năm  qua  ngày  càng  dao  động mạnh,  với  xu  hướng  tăng  lên đáng kể. Những dòng vốn ngoại lớn đổ vào cùng với tăng trưởng tín dụng trong nước đã gây ra áp lực đáng kể đối với lạm phát. Khi VN vẫn duy trì tỷ giá danh nghĩa ở mức ổn định, lạm phát dẫn tới tỷ giá  thực  có hiệu  lực  tăng  lên, buộc  VN  phải  liên  tục  phá  giá đồng tiền.
    Những  mất  cân  đối  này  có thể gây ra những hậu quả không thể xem thường. Ít nhất là chúng tạo ra  tâm  lý với các nhà đầu  tư rằng rủi ro khi đầu tư vào VN là rất  cao.  Các mất  cân  đối  vĩ mô này  có  thể  làm phát  sinh khủng hoảng,  khi  niềm  tin  bị  xói mòn và các dòng vốn nước ngoài chảy khỏi VN. Khi đó, quốc gia sẽ phải trải qua quá trình điều chỉnh rất khó khăn và phải  thay đổi hoàn toàn các chính sách về tỷ giá, cắt giảm  chi  tiêu  công và đánh mất đi thành quả tăng trưởng của rất nhiều  năm  trước  đó.  Phản  ứng chính  sách  gần  đây  của  VN  đã được  quốc  tế  ghi  nhận,  nhưng phản ứng chính sách cho tới nay vẫn thiếu một chiến lược tổng thể để giải quyết các thách thức một cách toàn diện, có hệ thống.
    (Còn tiếp)
    Ý KIẾN BẠN ĐỌC
    Telex   VNI  
    Name:
    *
    Address:
    Phone:
    Email:
    *
    Content:
    *