Việc mở rộng các cơ sở nuôi thủy sản nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của người tiêu dùng đã dẫn đến xu hướng sử dụng các loại kháng sinh để nâng cao tỷ lệ sống và tăng trưởng của cá. Tuy nhiên, điều này bị cấm trong quá trình sản xuất do tác dụng phụ của kháng sinh và vì an toàn thực phẩm. Tìm các biện pháp thay thế để phòng ngừa dịch bệnh và giữ vững sản lượng cá, như cá tra ở Việt Nam đã trở thành yêu cầu cấp thiết.
Công ty Aqua Tecna (Pháp) đã phát triển thế hệ mới của các phụ gia cho thức ăn thủy sản dựa trên hiệu quả hỗ trợ của các liên kết sản phẩm hoàn toàn tự nhiên như tinh dầu và các chất chiết xuất từ thực vật. Liên kết của các thành phần chọn lọc làm tăng sự ngon miệng của cá và kích thích các chức năng tiêu hoá, làm cho việc hấp thụ các chất dinh dưỡng được dễ dàng. Các hoạt tính kháng vi sinh và nấm làm cân bằng và cải thiện hệ tiêu hoá, tạo nên môi trường trong đường ruột tốt hơn.
Các đặc tính của tinh dầuTinh dầu cô đặc là chất lỏng hút nước chứa các thành phần thơm dễ bay hơi của thực vật. Trái với tên gọi, chúng không nhất thiết là dầu và cũng không nên nhầm với các các axit béo cơ bản. Tên gọi này về cơ bản có ý nghĩa là chúng mang mùi hương và tinh chất đặc trưng của thực vật. Đây là hỗn hợp nhiều phân tử, kể cả các tinh chất đặc trưng (hydrocarbon không thơm) và các chất ôxy hoá (rượu, aldehyde, ketones).
Việc sử dụng tinh dầu và nước hoa để chữa bệnh đã được miêu tả trong các văn bản từ thời Ai cập cổ đại. Nhiều tinh dầu thông thường có dược tính được áp dụng trong ngành y từ thời cổ đại đến nay vẫn đang được sử dụng rộng rãi; nhiều tinh dầu có đặc tính diệt trùng và hỗ trợ tiêu hoá. Khả năng diệt khuẩn của tinh dầu đối với các mầm bệnh được mô tả trong nhiều ấn phẩm.
Tinh dầu tác động đến vi khuẩn theo nhiều con đường như can thiệp vào thành tế bào bằng cách kết hợp với chuỗi peptidoglycan (đường và các axit amine); can thiệp vào màng kép của phân tử lipit (LPS), ngăn cản việc vận chuyển ion kết hợp với protein tế bào chất hoặc hạn chế việc sản sinh adenosine triphosphat (ATP).
Có hai loại tính năng diệt khuẩn của tinh dầu. Khi thâm nhập vào vi khuẩn qua màng tế bào, tinh dầu sẽ tác động lên hệ trao đổi chất, ngăn cản việc di chuyển các electron và ngăn chặn phản ứng phosphoryl của vi khuẩn, gây nên sự phá hủy chính vi khuẩn. Tinh dầu cũng có thể làm mất tính thẩm thấu của màng tế bào của vi khuẩn bằng cách thay đổi các đặc tính lý học của nó (phá vỡ các thành phần đường, lipo-polysaccharide và phospholipid), phá vỡ thành tế bào và làm vi khuẩn trở thành bất hoạt.
Các đặc tính của dịch chiết thực vậtCác dịch chiết từ thực vật chủ yếu cung cấp Fructo-Oligo-Saccharide (FOS) với các đặc tính kích thích vi khuẩn có lợi trong ruột; hạn chế các dịch bệnh lây nhiễm liên quan đến các loại mầm bệnh như Salmonella spp., Campolybacter spp.; làm cho việc hấp thụ canxi và sắt qua đường ruột dễ dàng hơn; và tăng cường sự cân bằng nội của lipit, tạo khả năng giữ mức cân bằng này bất kể tác động bất lợi từ bên ngoài.
Các phụ gia thức ăn đối với cá traNăm 2007, GS Lê Thanh Hùng và đồng nghiệp Võ Thị Thanh Bình thuộc trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh đã thực hiện một thí nghiệm đối với cá tra. Mục đích là xác định những tác động của tinh dầu đối với sức tăng trưởng và sức khoẻ của cá. Thí nghiệm tiến hành trong 12 bể nhựa để ngoài trời dành cho 3 biện pháp xử lý đối với cá tra, mỗi biện pháp được thực hiện trong 4 bể giống nhau. Mật độ thả giống trong thời kỳ nuôi vỗ 100 con/thùng. Thí nghiệm bắt đầu từ giữa tháng 11/2007 và đã hoàn thành vào giữa tháng 1/2008, tổng thời gian nuôi 8 tuần.
Thí nghiệm sử dụng khoảng 2.000 con cá tra giống (trung bình 6-10g/con). Cá được cho ăn bằng thức ăn viên tối thiểu 15 ngày trước khi bắt đầu thí nghiệm để làm quen, được cân trước và thả ngẫu nhiên vào các thùng. Dùng MS222 để làm giảm sự căng thẳng của cá. Thời gian đầu, thay nước 2 ngày 1 lần, đến tuần thứ 4 thay nước hằng ngày. Mỗi tuần đo hàm lượng ôxy hoàn tan và độ pH một lần. Tổng amoniac cũng được theo dõi hàng tuần. Đo nhiệt độ hai lần mỗi tuần vào lúc 6h và 14h. Trong thí nghiệm, sử dụng thức ăn viên 26% protein thô làm đối chứng (A0). Phụ gia thức ăn được phủ bổ sung bên ngoài viên thức ăn với hai loại liều lượng 0,1% (A1: 1kg/tấn thức ăn) và 0,2% (A2: 2kg/ tấn thức ăn). Cá được cho ăn thoải mái 2 lần/ngày. Hằng tuần ghi lại mức tiêu thụ thức ăn của từng thùng. Hai tiếng sau khi cho ăn, vớt thức ăn thừa ra ngoài và phơi khô để đo mức tiêu thụ.
Cuối đợt thí nghiệm, cân cá trong từng thùng. Theo dõi mức tăng trưởng bằng cách sử dụng hệ số tăng trưởng tương đối (SGR). Trong công trình nghiên cứu, theo dõi hiệu quả sử dụng theo hệ số thức ăn (FCR) và hiệu suất protein (PER). Tất cả các dữ liệu thu thập (SGR, FCR) được phân tích bằng phần mềm SPSS. Dùng kiểm chứng Duncan để so sánh sự khác nhau đáng kể ở cá nuôi theo 3 chế độ thức ăn khác nhau.
Để đánh giá tác dụng của phụ gia thức ăn đối với sức khoẻ cá, vào cuối đợt thí nghiệm cá được thử thách với vi khuẩn Edwardsiella ictaluri. Đây là loại vi khuẩn phổ biến, gây thiệt hại lớn trong nuôi cá tra ở ĐBSCL. Sau 8 tuần nuôi, chuyển 30 con từ mỗi nhóm sang một bể có thể tích 0,4x0,6x0,6m trong điều kiện ủ mầm bệnh. Thực hiện phân tích về vi khuẩn trước khi bắt đầu việc thử thách kiểm chứng để đảm bảo cá không hề bị nhiễm vi khuẩn trước đó.
Cá được tiêm dung dịch vi khuẩn Edwardsiella ictaluri với liều lượng 106 ml-1tế bào. Theo dõi tỷ lệ sống trong bể vào ngày 1, 2 và 5 sau khi tiêm. Quan sát và mô tả các dấu hiệu lâm sàng trong thận, lách và gan của ở 12 bể để đánh giá tác dụng của sản phẩm đối với sức khoẻ của cá.
Sức tăng trưởngKết quả trong bảng 2 cho thấy sự tăng trưởng của cá đã được cải thiện khi cho ăn bằng thức ăn viên có bổ sung phụ gia. Trong lượng cuối cùng và hệ số tăng trưởng tương đối tương ứng với biện pháp 0,1% cao hơn so với đối chứng nhưng sự khác biệt không đáng kể. Trong khi đó sức tăng trưởng của biện pháp 0,2% lại khác nhiều so với nhóm đối chứng, điều này cho thấy việc bổ sung sản phẩm với mức 0,2% đã cải thiện đáng kể mức tăng trưởng của cá tra, như thấy rõ trong bảng 2. Sự cải thiện mức tăng trưởng của cá tra có thể giải thích do sản phẩm tinh dầu đã kích thích sự bài tiết enzym nội trong đường tiêu hoá.
Các kết quả trong bảng 2 cũng cho thấy việc hấp thụ thức ăn tăng lên với việc bổ sung phụ gia. Tuy nhiên không có sự khác nhau đáng kể giữa các biện pháp.
FCRFCR trong 3 chế độ ăn (đối chứng, 0,1% và 0,2%) giảm khi bổ sung phụ gia thức ăn. Trong thí nghiệm, giá trị FCR còn tương đối cao so với FCR trung bình bằng 1,5-1,6 khi nuôi cá trong ao. Nguyên nhân là do vào mùa đông, nhiệt độ thấp trong suốt quá trình nuôi (26-27oC) không có lợi cho sự tăng trưởng. FCR (1,55) được cải thiện đối với cá nuôi với biện pháp 0,2% so với đối chứng (2,46) cho thấy việc bổ sung phụ gia thức ăn cá tra đã nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn. Tiêu thụ thức ăn trong ba biện pháp không khác nhau nhiều.
Kiểm tra thử tháchTỷ lệ sống của cá được thể hiện trong Hình 1. Tỷ lệ sống giữa các biện pháp sử dụng trong thí nghiệm thay đổi lớn ngay cả trong 4 bể cùng loại. Trong thí nghiệm này không sử dụng các thông số đánh giá tình trạng sức khoẻ cá như chỉ số đại thực bào và lizozim, tuy vậy, rõ ràng từ những dữ liệu về thử thách thì sức khoẻ của cá đã được tăng cường với việc bổ sung 0,2% phụ gia. n
Trung Mai dịch
Aqua Culture AsiaPacific
Magazine, 3-4/2009