Không kiểm thì nguy toTheo TS. Nguyễn Trung Thắng (Viện Chiến lược, Chính sách Tài nguyên và Môi trường - IPONRE), tại các vùng kinh tế trọng điểm của nước ta, hàng nghìn cơ sở sản xuất công nghiệp đang gây ô nhiễm môi trường đất và nước do không có công trình và hệ thống xử lý chất thải, khiến lượng chất thải rắn công nghiệp ngày càng tăng trong quá trình công nghiệp hóa. Chính việc quản lý lỏng lẻo thời gian qua đã gây ra những điểm ô nhiễm môi trường nghiêm trọng như làng ung thư Thạch Sơn ở Phú Thọ, Công ty Vinashin Huyndai ở Khánh Hòa gây ô nhiễm môi trường bằng bụi nix, công ty Vedan đầu độc sông Thị Vải (Đồng Nai), công ty Tung Kuang xả chất thải trực tiếp ra sông Cầu Ghẽ (Hải Dương),…
Nhằm phát triển kinh tế, quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa sẽ được đẩy mạnh hơn nữa để đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020, khối lượng và loại hình chất thải sẽ ngày càng gia tăng. “Với thực trạng ô nhiễm môi trường đang xảy ra ngày càng trầm trọng, việc áp dụng các công cụ quản lý môi trường một cách hiệu quả, trong đó có KTCT, đang là nhu cầu bức thiết” - TS. Nguyễn Trung Thắng khẳng định.
Hiện IPONRE được nhà nước giao thực hiện dự án áp dụng thử nghiệm KTCT trong quản lý môi trường ngành công nghiệp Việt Nam. Từ năm 2009 đến 2011, dự án được thực hiện tại 10 cơ sở đại diện cho 10 ngành công nghiệp (dệt may, giấy, thuộc da, bia, phân lân, ăcquy, thép, xi măng, chế biến thủy sản và cao su thương phẩm) nhằm xây dựng quy trình KTCT để áp dụng trong quản lý môi trường ngành công nghiệp nói chung và cho 10 ngành sản xuất công nghiệp này nói riêng. Ngoài ra, dự án còn nghiên cứu đề xuất chính sách áp dụng KTCT trong quản lý môi trường ở nước ta, đồng thời xây dựng dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc áp dụng KTCT trong sản xuất công nghiệp.
Lợi ích lớn, dễ thực hiệnKTCT là công cụ kiểm soát ô nhiễm môi trường rất hiệu quả và hiện được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới. Hiểu một cách đơn giản, nó là công cụ giúp các cơ sở sản xuất biết các quá trình sản xuất có thực hiện đúng các quy định về quản lý môi trường không, đồng thời nắm được sự thất thoát nguyên vật liệu, năng lượng, nước và các quá trình không hiệu quả trong quy trình công nghệ của mình, từ đó xác định giải pháp để hạn chế thất thoát này, hạn chế sự phát thải các chất ô nhiễm, và nhờ vậy, đồng thời đạt được 2 mục đích: làm cho quá trình sản xuất hiệu quả hơn và bảo vệ môi trường tốt hơn do thải ra môi trường ít hơn.
Theo PGS. TS. Nguyễn Thị Hà (Khoa Môi trường, Đại học Quốc gia Hà Nội), KTCT còn giúp giảm kinh phí đầu tư vào hệ thống xử lý chất thải, giảm tiêu hao nguyên vật liệu, từ đó tăng lợi nhuận và sức cạnh tranh cho DN. Những điều đó cho thấy, thực hiện KTCT góp phần đảm bảo việc tuân thủ chi phí-lợi ích không chỉ đối với luật pháp mà còn đối với các tiêu chuẩn về quản lý môi trường theo yêu cầu của các thị trường tiêu thụ.
Ngoài ra, KTCT còn ý nghĩa giảm thiểu rủi ro, sự cố, đồng thời giúp nâng cao uy tín cũng như vị thế của DN, đặc biệt là đối với những ngành công nghiệp liên quan đến XK. Vì khi các đối tác đến làm việc với các DN Việt Nam, điểm quan tâm đầu tiên của họ là hoạt động bảo vệ môi trường, “điều đó giống như sự bảo lãnh để họ có thể tiếp tục đàm phán và hợp tác với DN”.
Theo bà Hà, không nên nghĩ rằng chỉ có các DN quy mô lớn mới có điều kiện triển khai KTCT, mà cả các cơ sở sản xuất nhỏ và vừa cũng có thể làm được vì chi phí đầu tư cho KTCT không nhiều so với lợi ích mà nó mang lại. Ví dụ, chuyên gia tư vấn có thể chỉ cho DN biết có thể tiết kiệm điện, nước ở khâu nào, giảm thất thoát nguyên liệu ở khâu nào,... Vấn đề là hiện nay chúng ta chưa tuyên truyền rộng rãi để DN hiểu biết về lợi ích của KTCT, nên họ vẫn coi đây là việc làm hình thức, không mang lại hiệu quả thiết thực.
Nhiều cơ hội thực hiện sản xuất sạch hơnHiện nay, nhiều DN đã áp dụng các biện pháp sản xuất sạch hơn (SXSH) để chủ động giảm thiểu chất thải và phòng ngừa ô nhiễm tại nguồn, từ đó mang lại các lợi ích kinh tế. Mục tiêu của SXSH là tránh ô nhiễm bằng cách sử dụng tài nguyên, nguyên vật liệu và năng lượng một cách hiệu quả nhất, nghĩa là sẽ có một tỷ lệ nguyên vật liệu được chuyển vào thành phẩm thay vì bị loại bỏ. SXSH đáp ứng được một yêu cầu quan trọng của ISO 14001 là chuyển đổi từ tập trung vào các giải pháp cuối đường ống sang việc khảo sát tất cả các công đoạn của quá trình sản xuất, dịch vụ và vòng đời sản phẩm. Vậy, giữa SXSH và KTCT có quan hệ như thế nào?
PGS. TS. Hà cho biết, SXSH và KTCT đều nhằm mục đích giảm lượng chất thải và tăng hiệu quả kinh tế. Sự khác nhau chủ yếu ở cách tiếp cận. Trong SXSH, chỉ cần thay đổi một hoạt động như nạp nguyên liệu thì cũng là cơ hội, hay chỉ cần nâng cao ý thức tiết kiệm của người công nhân cũng đã có thể coi là sáng kiến SXSH. Thực hiện SXSH không cần phải thực hiện cân bằng vật chất, tức là không cần tính toán đầu vào và đầu ra cho tất cả quy trình để xác định lượng chất thải, để từ đó đưa ra các biện pháp và kế hoạch giảm thiểu chất thải. Thực ra, đối với SXSH, nếu thực hiện với quy mô đầy đủ cả về công nghệ, quản lý và nhân sự thì đều phải thực hiện cân bằng vật chất, tức là cũng gần giống với KTCT, nhưng vấn đề là không phải DN nào cũng có điều kiện để triển khai đến mức độ như vậy.
“Muốn KTCT thì phải làm chi tiết theo đúng quy trình, tức là làm KTCT thì càng phát hiện nhiều cơ hội để thực hiện SXSH, SXSH chính nằm ở giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong KTCT” – bà Hà cho biết. “Tuy nhiên, ngay cả khi có sổ tay hướng dẫn KTCT thì vẫn cần có chuyên gia tư vấn hướng dẫn để tiếp cận nhanh hơn và thực hiện KTCT mới hiệu quả và đúng quy trình”.
Nguyên Khải