Bài này nêu một số nhận xét của Dự án “Tăng cường sản xuất con giống cá tra chất lượng cao bền vững ở Việt Nam” do Đại học Cần Thơ và Đại học Stirling - Anh thực hiện năm 2008- 2010 với tài trợ của Hội đồng Anh.
Mục tiêu dự án là điều tra tình hình chất lượng con giống cá tra ở vùng ĐBSCL và xác định các vấn đề về chất lượng con giống ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành nuôi.
Dự án đã khảo sát các cơ sở sản xuất giống (CSSXG) và trại nuôi trong ba tỉnh sản xuất cá tra chính nhằm tìm hiểu nhận thức của người sử dụng về chất lượng con giống và xác định các quy trình có khả năng tác động đến chúng (Bảng 1).
Ngành sản xuất giốngNghề sản xuất cá tra giống của Việt Nam đã hình thành từ cuối những năm 1990. Từ đó người nuôi cá không còn bị phụ thuộc vào nguồn con giống tự nhiên khai thác ở sông Mê Kông. Trước đó, nhiều cộng đồng ở thượng lưu sông Hậu và sông Tiền, gần Cămpuchia đã có nghề ương cá giống tự nhiên. Các cơ sở ương có kinh nghiệm sau này đã trở thành những chủ nhân đầu tiên của các CSSXG và đến nay đã có nhiều CSSXG cá tra ở những cộng đồng tương tự.
Tìm nguồn cá bố mẹChủ các CSSXG đã làm nhiều cách để tìm kiếm nguồn cá bố mẹ, dựa trên các yếu tố:
- Quan niệm về khả năng sinh sản của cá bố mẹ tự nhiên và nhân giống nhân tạo.
- Cố gắng giữ gìn đa dạng di truyền bằng cách tìm nguồn cá bố mẹ từ nhiều địa phương.
- Khả năng có sẵn nguồn cá bố mẹ tại chỗ thay đổi theo từng nơi.
Hình 1 thể hiện các nguồn cá bố mẹ do những người được phỏng vẫn cho biết. Khoảng một nửa số người được phỏng vấn lấy cá bố mẹ từ nhiều nguồn khác nhau. Tuy nhiên, số lượng cá bố mẹ từ mỗi nguồn cũng khác nhau giữa các CSSXG. Nguồn cá bố mẹ phổ biến nhất là từ ao nuôi cá thương phẩm phục vụ cho các chợ địa phương hoặc tiêu thụ tại chỗ. Những người được phỏng vấn cho biết hầu hết các hệ thống nuôi này được thả bằng cá khai thác tự nhiên và một số chủ CSSXG chọn cá bố mẹ từ nguồn này, coi đây là một lợi thế rất lớn.
Nhưng điều quan trọng là cá được thả nuôi trong các hệ thống này có rất ít thức ăn bổ sung, do vậy chậm lớn. Những người được phỏng vấn và sử dụng nguồn cá bố mẹ từ các ao nuôi quảng canh mua cá đã thành thục sinh dục được 3 năm tuổi trở lên, nặng 1,5-2kg.
Trong giai đoạn cá bố mẹ hậu bị, cá được nuôi bằng thức ăn hàm lượng protein cao nên lớn rất nhanh và có thể cho đẻ trong khoảng vài tháng, vì vậy đây là một cách lựa chọn rất hiệu quả về mặt chi phí.
Nguồn cá bố mẹ từ ao nuôi thâm canh phục vụ XK có sẵn hơn rất nhiều. Cỡ xuất bán khoảng 1kg và ít khi quá 12 tháng tuổi. Như vậy, chúng cần có thêm thời gian để thành thục và cần nhiều chi phí thức ăn nuôi cá hậu bị trước khi cho đẻ. Nhìn chung, phần lớn nguồn cá bố mẹ được tiếp tục lấy trực tiếp từ đánh bắt tự nhiên. Nhiều CSSXG tìm cách bổ sung nguồn cá bố mẹ tự nhiên để đa dạng hoá nguồn gen cho cá bô mẹ tại cơ sở của mình.
Tóm lại, cá sản xuất trong CSSXG có thể được giữ lại và nuôi tiếp để dùng làm nguồn cá bố mẹ. Biện pháp này tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ CSSXG có thể tuyển chọn từ một đàn rất lớn những con có các ưu điểm như tăng trưởng nhanh và thể hiện năng lực tốt nhất để giữ lại, tuy vậy công việc này đòi hỏi có một kế hoạch lâu dài và một khoản đầu tư đáng kể.
Địa điểmTrong Hình 2 là một số hình thức hay trong việc ưu tiên sử dụng nguồn cá bố mẹ, nếu phân chia chúng theo địa điểm.
Ở Cần Thơ, dự án chỉ khảo sát 2 CSSXG (do trong tỉnh có ít CSSXG). Cả hai đều là một bộ phận của cơ sở nuôi thương mại lớn, vì vậy họ có đàn cá lớn trong tay dùng làm nguồn cá bố mẹ. Tại huyện Tân Châu, tỉnh An Giang, các CSSXG được đến thăm đều không sử dụng nguồn cá bố mẹ từ các ao nuôi XK. Những người được phỏng vấn ở đó cho biết họ chí ít cũng dùng một số cá bố mẹ nguồn gốc tự nhiên. Phần lớn các chủ CSSXG lấy cá bố mẹ từ các ao nuôi địa phương được thả bằng cá vớt từ nhánh sông Tiền của sông Mê Kông.
Các chủ CSSXG ở huyện Tân Châu rất chuộng nguồn cá bố mẹ có nguồn gốc tự nhiên vì họ thấy chúng có hình dáng đẹp và sản xuất nhiều trứng trong mùa sinh sản nên tỷ lệ sống của con giống cao hơn. Trái lại, tại huyện cù lao Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, nơi tập trung đông nhất các CSSXG của vùng đồng bằng lại sử dụng nhiều nguồn cá bố mẹ khác nhau. Họ chuộng cá bố mẹ có nguồn gốc con giống nhân tạo vì thấy cá được nhân giống nhân tạo dễ cho đẻ hơn so với cá nguồn gốc tự nhiên. Chủ các CSSXG cũng cho biết cá bố mẹ có nguồn gốc từ các trại nuôi đẻ trứng nhiều hơn 30% so với cá bố mẹ tự nhiên, trứng có tỷ lệ nở cao và cho ra con giống lớn nhanh hơn.
Nhiều yếu tố lích sử có thể giải thích được những khác biệt này. Các CSSXG đã đến khảo sát ở Cần Thơ mới được xây dựng với mục đích cung cấp con giống cho các trại nuôi lớn mà họ có liên kết. Các trại nuôi này cung cấp ngược lại nguồn cá bố mẹ trực tiếp. Tại huyện Hồng Ngự, nhiều CSSXG nằm ở những địa điểm rất gần nhau nên có sự cạnh tranh, đòi hỏi phải chọn lọc cá bố mẹ từ nhiều nguồn khác nhau. Điều này lý giải cho sự đa dạng của nguồn cung cấp cá bố mẹ sử dụng ở đây. Các chủ CSSXG cũng nhận thức được khả năng lai cận huyết khi sử dụng cá bố mẹ từ con giống nhân tạo, nên rất tích cực tìm kiếm cá bố mẹ từ nhiều địa điểm và nguồn cung cấp.
Huyện Tân Châu, tỉnh An Giang có rất ít CSSXG so với huyện Hồng Ngự. Ở đây họ vẫn tiếp tục cách làm truyền thống khai thác và thả giống tự nhiên vào ao nuôi quảng canh, mặc dù Nhà nước đã có lệnh cấm sử dụng con giống tự nhiên từ năm 2000. Những người được phỏng vấn đều nói công khai việc này và cách làm trên vẫn phổ biến, tuy ở quy mô nhỏ.
Rất thú vị là CSSXG ở Long Xuyên của công ty quốc doanh Afiex An Giang đã sử dụng cả cá có nguồn gốc tự nhiên và con của chúng để làm cá bố mẹ. Các báo cáo cho thấy không có sự khác nhau về khả năng của chúng vì các điều kiện môi trường nuôi và dinh dưỡng giống hệt nhau. Nhiều người được phỏng vấn cũng thừa nhận tầm quan trọng của thức ăn trong việc quyết định chất lượng cá bố mẹ và trứng. Họ thấy rằng việc quản lý chất lượng thức ăn và cá bố mẹ được cải thiện dần qua các năm kể từ khi CSSXG đi vào hoạt động.
Điều này cho thấy nếu không thực hiện tốt các quy trình quản lý cá bố mẹ, rất có thể có sự khác nhau về khả năng của cá bố mẹ tự nhiên và nhân giống nhân tạo. Vì vậy, sự cải thiện về năng suất trứng như báo cáo ở huyện Hồng Ngự cho thấy những cải tiến chung trong quản lý chứ không phải là kết quả của việc chuyển từ sử dụng cá bố mẹ tự nhiên sang cá bố mẹ nhân giống nhân tạo. Tuy vậy, trong khi người dân huyện Hồng Ngự hoàn toàn nhất trí với nhân giống nhân tạo do tầm quan trọng của chúng đối với cộng đồng, thì ở huyện Tân Châu, nơi có ít CSSXG hơn, lại vẫn tiếp tục khai thác một lượng nhỏ cá tự nhiên theo cách làm cũ để thả giống và nuôi.
Vì vậy, những quan niệm của các chủ CSSXG ở hai địa phương này thể hiện có thể là thói quen mang tính địa phương nhiều hơn là những khác nhau thực sự về khả năng giữa nguồn cá bố mẹ tự nhiên và nhân giống nhân tạo.
Quản lý nguồn cá bố mẹQuy trình quản lý của các CSSXG cũng khác nhau rất nhiều. Một CSSXG của AFIEX cho nuôi cá đực và cá cái theo tỷ lệ 1:1, trong khi đó các CSSXG tư nhân khác nuôi theo tỷ lệ 1 đực/9 cái. Sự lựa chọn cách làm này cho thấy nỗ lực cân đối giữa gia tăng sự khác biệt di truyền và giảm chi phí thức ăn. Số lần mỗi con cá được cho đẻ trong một năm và tổng thời gian mỗi con cá được sử dụng để cho đẻ cũng khác nhau.
Hầu hết các CSSXG cho biết họ dùng nguồn cá bố mẹ có trọng lượng từ 3-7kg và mỗi cá mẹ được cho đẻ 2-3 lần/năm trong vòng 3 năm. Cá thể nào có khả năng sinh sản tốt sẽ được giữ lại lâu hơn, nếu kém sẽ bị loại bỏ nhanh hơn. Nhiều CSSXG đánh dấu cá bố mẹ và duy trì hồ sơ chi tiết để tiện cho việc ra các quyết định quản lý. Nhiều CSSXG cho biết họ cho cá đẻ tới 6 lần trong một năm nếu có nhu cầu cao về con giống.
Một số CSSXG cho biết tỷ lệ ương nở chênh lệch nhau khoảng 20% theo mùa và đạt tỷ lệ thấp nhất vào cuối mùa mưa và mùa đông. Các CSSXG khác cho biết không có sự khác nhau về tỷ lệ nở trong cả năm. Tương tự, một số chủ CSSXG cho biết tỷ lệ nở trứng đã được cải thiện dần từ khi họ đi vào hoạt động do có cải tiến kỹ thuật, trong khi đó một số khác lại cho biết không có sự thay đổi nào. Năng suất trứng đạt thấp nhất vào các tháng 10, 11 và 12, chỉ đạt khoảng 5% trọng lượng cá hoặc thấp hơn. Điều này khiến nhiều CSSXG nhỏ phải ngừng sản xuất và đẩy giá con giống tăng mạnh.
Giá xuất bán của cá tra thương phẩm là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến đầu ra của các CSSXG. Nếu giá bán tại cổng trại nuôi cao, người nuôi sẽ bán nhanh và sau đó cũng nhanh chóng thả giống tiếp với con giống của cơ sở ương. Tiếp đó các cơ sở ương giống cũng cần cá bột mới để tiếp tục chu kỳ sản xuất. Các CSSXG tự điều chỉnh việc sản xuất của họ cho phù hợp với nhu cầu.
Trung Mai
Theo Aqua Culture Asia Pacific
Magazine 3,4/2010