Theo tổng cục thống kê, tính đến 1/6, chỉ số tồn kho của ngành công nghiệp chế biến đã tăng 27,5% so với cùng kì 2009. Trong khi chỉ số tiêu thụ của ngành này chỉ tăng 13,5%, dẫn đến những quan điểm chưa mấy lạc quan về sự phục hồi sản xuất công nghiệp.
Vụ trưởng Vụ Công nghiệp - Xây dựng (Tổng cục Thống kê) Phạm Đình Thúy đã có những nhận định xung quanh những con số này với Vneconomy.
Theo ông Thúy, năm 2010 tỷ lệ tồn kho có xu hướng giảm dần và ở mức tăng 27,5%. Việc chỉ số tồn kho tăng thấp đi khẳng định hai điều.
Một là, sản xuất ở trong điều kiện tốt hơn với tỷ lệ tồn kho đã giảm rất nhiều so với lúc khủng hoảng.
Hai là, càng về cuối năm, kinh tế Việt Nam phục hồi và phát triển hơn, việc làm của người lao động ổn định hơn, thu ngân sách của Nhà nước tốt hơn nên người tiêu dùng có khả năng tiêu thụ hàng hóa tốt hơn.
Ngoài ra, xuất khẩu cũng phục hồi nhanh chóng trong những tháng đầu năm nay. Dù chưa đạt mức kỳ vọng, nhưng đã hỗ trợ nhiều cho tiêu thụ sản phẩm công nghiệp chế biến trong nước, góp phần làm cho tỷ lệ tồn kho giảm xuống, đã thể hiện một xu hướng phát triển rất tốt của công nghiệp chế biến, chế tạo rồi, kể cả sản xuất lẫn tiêu thụ.
Dự đoán, khi kinh tế phục hồi hoàn toàn thì chỉ số tiêu thụ sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo sẽ tăng lên khoảng 15%, chỉ số tồn kho xuống khoảng 15-20%.
Còn chỉ số tồn kho có hơi cao vào thời điểm hiện nay nên hiểu là các doanh nghiệp kỳ vọng thời gian tới khả năng tiêu thụ ngày càng phục hồi và ổn định hơn, nên đã thực hiện kế hoạch sản xuất nhiều hơn, dự trữ hàng hóa cho tiêu thụ tốt hơn thời gian tới.
Ngoài ra, theo chu kỳ, chỉ từ các tháng giữa 5 trở đi, đơn hàng tiêu thụ hàng hóa, đặc biệt là xuất khẩu ngày càng ổn định và nhiều hơn cũng là yếu tố kích thích sản xuất và tồn kho tăng hơn.
Khi đi vào từng ngành thì cách nhìn nhận có khác vì phụ thuộc vào nhiều yếu tố.
Với ngành xi măng, sản phẩm tồn kho khá cao. Điều này nói lên việc định hướng phát triển xi măng cần được xem xét lại khi số lượng doanh nghiệp mới được thành lập ngày càng nhiều, trong khi mức độ tiêu thụ có hạn.
Về thức ăn chăn nuôi, chỉ số tồn kho cao là do chăn nuôi và tiêu thụ khó khăn ở lợn, gà và thủy sản…, cả tiêu thụ nội địa cũng như xuất khẩu.
Riêng ôtô - xe máy, do tỷ lệ linh kiện Việt Nam làm ra rất thấp nên nhập khẩu linh kiện ngành này thời gian vừa qua tăng rất mạnh, sản xuất phục hồi, nên tồn kho cũng có phần cao lên vì thế. Đồng thời, tiêu thụ ôtô - xe máy nhìn chung đã chậm hơn, dẫn tới tồn kho tăng cao.
Gần đây, việc chỉ số giá vốn hàng bán tăng với tốc độ cao hơn chỉ số giá tiêu dùng được cho rằng khâu trung gian phân phối sẽ bị giảm lợi nhuận, không khuyến khích đẩy mạnh bán hàng, làm tăng tồn kho. Tuy nhiên, ông Thúy cho rằng, khi kinh tế khó khăn, cả nhà sản xuất và nhà phân phối đều phải chịu thiệt, phải duy trì dù lợi nhuận thấp để kỳ vọng bù đắp lại và phát triển sau này.
Nhưng tồn kho cao cũng chỉ tồn tại trong một thời gian, sau đó các doanh nghiệp sẽ phải tự điều chỉnh để có mối quan hệ phù hợp, an toàn và ổn định tỷ lệ giữa sản xuất - tiêu thụ - tồn kho.