• THƯƠNG MẠI THỦY SẢN - Số 125-126 | Tháng 5-6/2010

    Chất lượng sản phẩm thủy sản XK luôn được các nhà chế biến, các thành phần trong chuỗi sản xuất và các cơ quan quản lý nhà nước quan tâm, nhằm nâng cao tính cạnh tranh, đảm bảo uy tín và duy trì phát triển bền vững.

    Tuy nhiên, khi các DN sản xuất phải trải qua những tác động nghiêm trọng của khủng hoảng, phải đối phó với nhiều biến động tiêu cực của thị trường, họ trở nên rất nhạy cảm với những giải pháp quản lý thiếu phù hợp.

    Việc ra đời và thực hiện một số văn bản quy phạm pháp luật mới đây thực sự đã gây nhiều mối lo cho các DN chế biến và XK thủy sản, đặc biệt là các DN chế biến và XK cá tra.

    Thông tư 09/2010/TT-BNNPTNT do Bộ NN&PTNT ban hành ngày 26/2/2010 đã đưa ra những qui định về đảm bảo chất lượng, VSATTP trong chế biến sản phẩm cá tra XK. Bên cạnh các yêu cầu về cơ sở chế biến và cá nguyên liệu, văn bản trên đòi hỏi các lô hàng cá tra trước khi XK phải được kiểm tra và chứng nhận về chất lượng, VSATTP; theo đó, kể từ ngày 12/4/2010, DN xuất khẩu cá tra phải có Chứng thư vệ sinh mới được mở tờ khai XK.

    Việc thực hiện các yêu cầu đó làm nảy sinh những bất cập, nhất là tiến độ giao hàng chậm hơn, ảnh hưởng đến uy tín của DN; các DN XK có lô hàng khối lượng lớn có thêm mối lo thiếu kho lưu giữ và bảo quản hàng trong thời gian chờ chứng thư; chi phí kiểm hàng và lưu kho tăng lên; và nguy cơ đọng vốn khi hàng hoá phải lưu giữ trong kho. Mối lo khác của DN là khả năng đáp ứng kịp thời việc kiểm nghiệm và cấp chứng thư của các trung tâm vùng của Nafiqad khi số lượng và khối lượng lô hàng phải kiểm tăng lên rất nhiều.

    Thông tư 09 được ban hành nhằm tăng cường quản lý chất lượng sản phẩm cá tra XK, bảo vệ uy tín của thủy sản VN trên thị trường quốc tế, nhất là khi có những phương tiện truyền thông một số nước đưa thông tin xấu về chất lượng cá tra VN. Ngoài ra, để thu lợi nhuận, một số DN đã có hành động gian lận thương mại, tiêu thụ hàng kém phẩm chất và thiếu trọng lượng, làm tổn hại đến danh tiếng và hình ảnh của cá tra VN.

    Tuy nhiên, việc thực hiện Thông tư 09 không phải là biện pháp có thể kiểm soát hoàn toàn khu vực này, bởi họ vẫn có nhiều cách để hoàn thiện thủ tục, chứng từ XK. Bản thân các nhà chế biến và XK làm ăn chân chính cũng nhận thức rất rõ vấn đề và họ kiên quyết phản đối việc kinh doanh những sản phẩm xấu, không đủ tiêu chuẩn XK.

    Vì vậy, theo ý kiến của nhiều DN, cơ quan thẩm quyền cần tìm biện pháp hiệu quả hơn và mang tính chọn lọc để quản lý chặt chẽ những đối tượng có nguy cơ cao đó, thay vì áp dụng những biện pháp mang tính đánh đồng mọi đối tượng. Đồng thời, cơ quan quản lý cần áp dụng các biện pháp rút ngắn thời gian kiểm định, thực hiện giảm tần suất lấy mẫu kiểm tra dựa vào đánh giá xếp loại DN mà không theo số lô hàng XK sang từng thị trường.

    Cũng với sản phẩm cá tra, ngày 10/12/2009 Bộ NN&PTNT đã ban hành Quyết định số 3535, trong đó quy định hàm lượng nước trong sản phẩm cá tra dưới 83% khiến nhiều DN không đồng tình. Họ cho đây là yêu cầu khó thực hiện, hoặc nếu buộc thực hiện cũng cần có một lộ trình hợp lý. Hai lý do được nêu ra là:

    Thứ nhất, hàm lượng nước tự nhiên trong cá tra nguyên liệu đã ở mức 78,21-80,96% và còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa, như môi trường nuôi, loại thứ ăn, kích cỡ cá thu hoạch, v.v.... Khi sản xuất philê có thực hiện tăng trọng trong phạm vi cho phép < 20%, hàm lượng nước trong sản phẩm đã giao động trong khoảng từ 82,6 đến 87,17% và chất lượng sản phẩm không bị ảnh hưởng. Do đó quy định hạn mức 83% rất khó có thể thoả mãn.

    Thứ hai, cá tra được coi là lựa chọn giá rẻ cho loại cá thịt trắng trên thị trường, do vậy để duy trì cạnh tranh, giá bán không thể tăng lên đột ngột, nhất là trong bối cảnh thị trường thế giới suy giảm. Để bảo đảm hàm lượng nước dưới 83%, đơn giá sản phẩm buộc phải tăng thêm ít nhất 15%, điều này sẽ gây phản ứng tiêu cực đối với khách hàng. Do đó, DN cần có lộ trình dài hơn để thực hiện động thái tiếp thị, chuẩn bị cho sự thích nghi dần của khách hàng nhằm cải thiện giá bán đến mức hợp lý.

    Một văn bản quy phạm pháp luật khác cũng gây nhiều bức xúc cho các DN NK nguyên liệu thuỷ sản để chế biến XK là Thông tư 06/2010/TT-BNNPTNT, ban hành ngày 2/2/2010, quy định về trình tự, thủ tục kiểm dịch thủy sản và sản phẩm thủy sản NK. Theo đó, nguyên liệu thuỷ sản NK vào VN sẽ do hai cơ quan Nafiqad và Cục Thú y kiểm tra với một số yêu cầu thủ tục gần tương tự nhau, như về Chứng thư vệ sinh và lấy mẫu, v.v…có thể gây ra sự trùng lặp.

    Vướng mắc chủ yếu, thậm chí khó giải quyết được ngay liên quan đến việc thực hiện Thông tư 06 là yêu cầu có giấy chúng nhận kiểm dịch hoặc giấy chứng nhận chất lượng của cơ quan thẩm quyền nước XK (bản gốc) cho mỗi lô hàng NK. Thực tế, ta chưa có thoả thuận song phương về cấp chứng nhận kiểm dịch hoặc chất lượng cho hàng hoá thuỷ sản với một số nước, trong đó có Nhật Bản - đối tác XNK lớn nhất của VN. Vì vậy, phía đối tác từ chối cấp các giấy chứng nhận theo yêu cầu. Thêm vào đó, nhiều Chi cục Thú Y không chấp nhận những giấy chứng nhận HACCP không phải bằng tiếng Anh.

    Mẫu đơn đăng ký kiểm dịch cũng yêu cầu phải khai báo tên, địa chỉ của nhà máy sản xuất, trong khi phần lớn các lô nguyên liệu khách hàng gửi cho DN VN bao gồm nhiều chủng loại, thu mua từ nhiều nguồn và nhiều thời điểm, do vậy việc xác định nhà máy sản xuất là hầu như không thực hiện được.

    Trong điều kiện thiếu nguyên liệu hiện nay, việc NK thuỷ sản để chế biến tái XK là hướng hết sức quan trọng để khai thác tối đa thế mạnh về năng lực và trình độ chế biến của các DN VN. Hiện nay, tới 95-97% trong số 140.000-150.000 tấn thuỷ sản NK hằng năm được sử dụng cho mục đích này. Ngoài ra, DN VN còn có cơ hội thực hiện nhiều hơn các hợp đồng gia công chế biến thuỷ sản của các đối tác Nhật Bản.

    Vì lý do trên, VASEP đã có văn bản kiến nghị đưa quy trình và thủ tục NK nguồn nguyên liệu thuỷ sản để chế biến tái XK vào một mục riêng, phân biệt với các nội dung khác trong thông tư sửa đổi Thông tư 06. Riêng sản phẩm XK bị triệu hồi hoặc trả về, sản phẩm NK từ tàu khai thác, tàu vận chuyển nước ngoài đề nghị không phải đăng ký kiểm dịch, không thực hiện kiểm dịch, mà chỉ khai báo với cơ quan kiểm dịch động vật tại cửa khẩu.

    Tuân thủ yêu cầu quản lý chất lượng của Nhà nước là nghĩa vụ chung của tất cả các DN nhằm vệ uy tín của sản phẩm và chỗ đứng bền vững trên thị trường thế giới của thủy sản Việt Nam. Tuy nhiên để mang lại hiệu quả thiết thực, giải pháp quản lý cần tuân thủ sâu sắc hơn yêu cầu cải cách hành chính của Chính phủ, sâu sát hơn với thực tiễn hoạt động của DN, hạn chế gây phiền hà, trùng lắp và tốn kém; tạo sự thông thoáng cần thiết cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.

    Trung Mai

    Ý KIẾN BẠN ĐỌC
    Telex   VNI  
    Name:
    *
    Address:
    Phone:
    Email:
    *
    Content:
    *