Sản xuất rô phi ở châu Á phần lớn nhắm tới thị trường nội địa, nơi rô phi được coi là loại cá rẻ tiền nhưng giàu dinh dưỡng, phù hợp với cách nấu nướng của khu vực. Người tiêu dùng châu Á ưa chuộng cá cỡ 500 tới 700 gam/con, nguyên con, tươi sống hay ướp đá.
Ngược lại, các sản phẩm XK đòi hỏi cỡ cá lớn hơn, khoảng 1 kg/con trở lên, đông lạnh nguyên con (bỏ ruột và đánh vảy) hoặc philê đông lạnh và các sản phẩm giá trị gia tăng.
Tuỳ theo diện tích trang trại, khả năng đầu tư và các yếu tố khác, người nuôi cá rô phi châu Á sẽ lựa chọn hoặc nuôi cá rô phi cỡ nhỏ để tiêu thụ trong nước hoặc nuôi cá cỡ lớn để XK. Ngày nay, những lo ngại và đòi hỏi của người tiêu dùng về ATTP và việc chứng nhận trang trại đang gây khó khăn cho người nuôi, đặc biệt là những người nuôi cá rô phi XK.
Những đòi hỏi mới đó đang thúc đẩy tốc độ chuyên nghiệp hóa trang trại và hình thành xu hướng liên kết trong chuỗi cung ứng cá rô phi XK. Để đáp ứng đòi hỏi của người tiêu dùng về khả năng truy suất nguồn gốc, ATTP và bảo vệ môi trường, các nhà XK đang tìm cách tích hợp các chuỗi cung ứng của họ - hoặc bằng cách đầu tư vào trại nuôi hoặc tạo ra quan hệ hợp tác với các nhà cung cấp. Thực tế này đối với rô phi cũng giống như những gì đã xảy ra trong ngành chăn nuôi, mặc dù mới trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển.
Liên kết mở rộng khả năng Liên kết giữa sản xuất và XK mang lại những khả năng mới, khi động lực chính làm nên thành công trong kinh doanh chuyển từ hoạt động sản xuất thuần túy sang quá trình gia tăng giá trị thông qua chất lượng của sản phẩm cuối cùng. Thay vì nỗ lực sản xuất ngày càng nhiều cá, DN liên kết có thể có lợi hơn khi sản xuất ít cá hơn nhưng chất lượng của sản phẩm cuối cùng được nâng cao nhờ cải thiện công thức thức ăn.
Khi đó, hiệu quả kinh tế của các nhà máy chế biến cũng được nâng lên do tỷ lệ philê trên nguyên liệu tăng lên, lợi nhuận cũng tăng theo còn phế phẩm ít đi. Các chỉ tiêu chất lượng như màu sắc, cấu trúc thịt cá của philê được cải thiện sẽ tạo ra nhiều lựa chọn để chế biến thành sản phẩm giá trị gia tăng và sản phẩm ăn liền.
Những bài học từ ngành chăn nuôi Người sản xuất thức ăn gặp phải thách thức khi phải đáp ứng nhu cầu của hai bộ phận khách hàng khác nhau. Những khách hàng tập trung vào sản lượng và chất lượng philê để XK cần loại thức ăn khác hẳn với những người nuôi cá phục vụ nhu cầu nội địa, những người chỉ đơn giản muốn có loại thức ăn giá rẻ nhưng giúp tăng trưởng tốt và hệ số ăn tốt.
Kinh nghiệm từ các đồng nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi có thể mang lại những giải pháp cho những thách thức này. Mặc dù có khác biệt giữa cá, lợn và gia cầm, những khái niệm chính liên quan tới thức ăn đều giống nhau trong cả ba ngành này và có thể áp dụng những giải pháp giống nhau hoặc tương tự nhau trong nhiều trường hợp.
Một trong những chìa khóa thành công là sử dụng một chương trình cho ăn kết hợp nhiều yếu tố tác động một cách tuần tự nhằm đạt tới mục tiêu cuối cùng của khách hàng. Nghiên cứu toàn bộ chuỗi sản xuất để xác định các yếu tố cơ bản, người ta có thể điều chỉnh việc cung cấp dinh dưỡng theo từng giai đoạn nhất định để đạt được mục tiêu mong muốn.