• THƯƠNG MẠI THỦY SẢN - Số 125-126 | Tháng 5-6/2010

    Nhìn tổng thể và lâu dài, XK thuỷ sản có triển vọng hết sức sáng sủa, nhưng DN Việt Nam cũng còn nhiều điều phải tiếp tục làm tốt hơn để bảo đảm phát triển bền vững...

    Sự kiện XK thuỷ sản năm 2009 tăng trưởng âm so với năm 2008 thực ra không gây nhiều ngạc nhiên, vì đã được nói đến ngay từ đầu năm. Điều đáng nói, là mức suy giảm (1,6% lượng và 5,7% giá trị) tuy không nghiêm trọng như đã tiên đoán, ngay cả so với những dự báo lạc quan nhất, song cũng là hiện tượng mới gặp lần đầu trong vài chục năm qua của ngành thủy sản Việt Nam.

    Trước đó, mặc dù đã trải qua những hoàn cảnh không kém phần gay cấn, như khủng hoảng tài chính năm 1997-1998, hay các vụ kiện chống bán phá giá cá tra và tôm ở Mỹ, nhưng điều đó chưa từng xảy ra.

    Từ sự kiện này, có thể nghĩ theo những hướng khác nhau. Chủ quan và giản đơn, có thể gán tất cả nguyên nhân cho suy thoái kinh tế toàn cầu, vì thế sức mua giảm sút, các ngân hàng khó khăn không bảo đảm tín dụng cho các nhà NK, tỷ lệ lạm phát và lãi suất ngân hàng cao, chi phí đầu vào tăng vọt, v.v… Những nguyên nhân này đều đúng và đã được nhắc đến nhiều lần.

    Cũng có cách nghĩ khác, bi quan hơn. Theo đó, những khó khăn trong suy thoái kinh tế chỉ là nguyên cớ khách quan, để bộc lộ rõ những bất cập chủ quan, những khuyết tật bản chất của nền sản xuất thuỷ sản phát triển không bền vững ở nước ta, khởi đầu cho một giai đoạn xuống dốc sau thời kỳ dài tăng trưởng. Cách nghĩ này không sai.

    Nhưng có lẽ cách thích hợp nhất là nên xem xét lại những cơ sở để XK thuỷ sản có thể tăng trưởng vững chắc và những lực cản đối với sự tăng trưởng đó, để từ đó có cái nhìn tương đối gần với thực tế của diễn biến tương lai.

    Động lực tăng trưởng xuất khẩu thuỷ sản

    Từ quá trình phát triển của ngành thuỷ sản trong nước và thế giớí, có thể dễ dàng đồng tình với những lý do chung đã kích thích sự phát triển của XK thuỷ sản.

    Nhu cầu tăng

    Vì nhiều lý do, con người có xu hướng ăn thuỷ sản ngày một nhiều hơn. Nhất là gần đây, khi bùng nổ những nguy cơ sức khoẻ như bệnh béo phì, các vụ ngộ độc hay dịch bệnh hoành hành với hầu hết các loài gia súc, gia cầm (như bò điên, lở mồm long móng, heo tai xanh, H5N1, cúm gia cầm,...) thuỷ sản dường như đã trở thành lựa chọn an toàn nhất.

    Nhưng nguồn cung cấp thuỷ sản không phải ở đâu cũng sẵn. Theo thống kê của FAO, tổng sản lượng thuỷ sản của thế giới khoảng 150 triệu tấn, trong đó hơn 110 triệu tấn được dùng làm thực phẩm, đáp ứng trên dưới 15% nhu cầu prôtêin động vật cho người. Đến nay, gần 90% nguồn lợi biển đã khai thác đến mức, hoặc thậm chí quá giới hạn cho phép. Trữ lượng còn có thể gia tăng khai thác hoặc thuộc sự quản lý chặt của một ít quốc gia, hoặc chi phí khai thác cao đến mức không còn ý nghĩa kinh tế. Vì vậy, từ giữa những năm 1980 đến nay, sản lượng thuỷ sản khai thác của thế giới gần như dừng lại, tăng giảm không đều.

    Các nước phát triển, vốn chủ yếu dựa vào thuỷ sản khai thác tự nhiên, bị thiếu hụt ngày càng lớn nguồn cung để đáp ứng nhu cầu trong nước, buộc phải đẩy mạnh NK, chủ yếu từ các nước đang phát triển (ĐPT). Hơn nữa, các nước phát triển cũng có xu hướng đẩy các hoạt động sản xuất sử dụng nhiều lao động và tài nguyên thiên nhiên sang các nước ĐPT, chỉ NK thành phẩm về để tiêu dùng hoặc tiếp tục chế biến giá trị gia tăng, với tỷ suất lợi nhuận cao. Vì vậy, thuỷ sản đứng đầu trong các sản phẩm nông nghiệp họ NK từ các nước ĐPT (Biểu đồ 1). Ngược lại, các nước ĐPT rất cần ngoại tệ, đã tập trung sản xuất thuỷ sản để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, trong đó lớn nhất là EU, Mỹ và Nhật Bản. Đến nay, các nước ĐPT đóng góp hơn 50% tổng NK thuỷ sản của các nước phát triển.

    Nuôi trồng thuỷ sản phát triển mạnh

    Hầu hết sự tăng sản lượng thuỷ sản của thế giới phải dựa vào ngành nuôi thuỷ sản (NTTS), trong đó các nước ĐPT khu vực châu Á – Thái Bình Dương đóng góp xấp xỉ 90% khối lượng và gần 75% giá trị. Sản lượng NTTS từ mức 1 triệu tấn vào những năm 1950 đã lên tới hơn 50 triệu tấn hiện nay.

    Thuỷ sản của Việt Nam cũng có xu hướng như các nước cùng khu vực, chỉ khác về mức độ. Trong khi sản lượng khai thác tăng rất chậm thì sản lượng NTTS luôn duy trì ở mức trên dưới 17%/năm. Năm 2009, sản lượng NTTS của Việt Nam là 2,57 triệu tấn, đứng thứ 3 thế giới sau Trung Quốc và Ấn Độ, và với tốc độ tăng trưởng hiện nay, có lẽ chỉ vài năm nữa Việt Nam sẽ vượt lên vị trí thứ 2 thế giới. Chính sự tăng trưởng của sản lượng NTTS, trong đó 2 loài chính là tôm và cá tra, là nhân tố bảo đảm cho sự phát triển XK thuỷ sản của Việt Nam, như thấy rõ trên biểu đồ 2.

    Thị hiếu tiêu thụ

    Trong một thời gian dài, có nhiều ý kiến cho rằng do khó khăn kinh tế, thu nhập giảm nên đã có sự chuyển dịch xu hướng tiêu thụ thuỷ sản từ các đối tượng cao cấp, đắt tiền, sang các loài rẻ tiền hơn. Đây là luận điểm cần được xem xét lại.

    Khi nghiên cứu riêng các sản phẩm được xem là cao cấp như cá ngừ vây xanh, cá tuyết, tôm cỡ lớn,… có thể thấy nhu cầu tiêu thụ hầu như không giảm và xu hướng giảm giá cũng không rõ ràng. Tuy nhiên, khả năng cung cấp các loại thuỷ sản ấy ngày càng bấp bênh. Chỉ khi nguồn cung hạn chế, người ta buộc phải tìm đến những mặt hàng rẻ tiền hơn. Điều này cũng có thể thấy ở ngay thị trường Việt Nam.

    Vì thế, tỷ lệ các mặt hàng cao cấp giảm dần trong tổng tiêu thụ thuỷ sản đang ngày một tăng lên. Cách nhìn đó đưa đến 2 hệ quả có ý nghĩa. Thứ nhất, nhu cầu thị trường thuỷ sản cao cấp không bị thu hẹp, thậm chí nếu đáp ứng đủ, còn có thể gia tăng. Hệ quả thứ hai là nhu cầu thuỷ sản tăng thật sự, mà không phải là sự thay thế sản phẩm cao cấp bằng những sản phẩm thấp cấp hơn, vì vậy không cần bán sản phẩm bằng bất kỳ giá nào. Việc giá trị XK cá tra Việt Nam sang Mỹ tiếp tục tăng hơn 70% trong khi kinh tế đang suy thoái nặng nề năm 2009 và tiếp tục tăng trong quý 1 năm nay, với mức giá hầu như không đổi so với năm trước là một bằng chứng. Theo Bộ Nông nghiệp Mỹ, trong cùng thời gian, giá cá nheo Mỹ cũng tăng nhẹ. Sự săn đón của các nhà NK đối với sản phẩm thuỷ sản XK của Việt Nam cũng ủng hộ luận điểm này.

    Còn nhiều phân khúc thị trường chưa khai thác

    Sau các vụ kiện chống bán phá giá cá tra và tôm ở Mỹ, hoạt động XTTM, mở rộng thị trường thuỷ sản Việt Nam đã đi vào thời kỳ mới với những chuyển biến sâu sắc cả về phương pháp lẫn cường lực, và danh sách hơn 150 thị trường NK hiện nay đối với thủy sản Việt Nam là kết quả đền đáp cho những nỗ lực đó.

    Việc mở ra những thị trường mới mang nhiều ý nghĩa. Một mặt, tạo đầu ra mới cho sản phẩm, góp phần tăng nhanh giá trị XK, tiêu thụ nhiều hơn nguyên liệu, thúc đẩy khai thác và NTTS phát triển, tăng thu nhập cho ngư dân. Thị trường mới đồng thời có nhu cầu tiêu thụ mới, giúp đa dạng hoá mặt hàng, sử dụng tối ưu nguyên liệu chế biến. Điều này có thể thấy rõ khi xuất hiện các thị trường Nam Mỹ, Nga, Ai Cập, v.v… với những yêu cầu sản phẩm cá tra khác hẳn với châu Âu hay Bắc Mỹ. Đầu ra mới tạo không gian thông thoáng hơn cho DN lựa chọn phương án kinh doanh, giảm áp lực cạnh tranh nội bộ. Nhiều DN đã XK sang các thị trường các chủng mặt hàng với mức giá khác nhau nên có khả năng linh hoạt điều chỉnh chiến lược kinh doanh khi có biến động về nguyên liệu, khả năng đáp ứng của DN, sức mua của khách hàng, tỷ giá hối đoái, v.v…

    Tuy nhiên, theo đánh giá của nhiều DN, Việt Nam vẫn còn nhiều “đất” để mở rộng thị trường hơn nữa. Ngay tại những thị trường cũ, nhiều phân khúc thị trường cũng chưa được khai thác hết, trong khi những cánh cửa mới đã mở ra ngày càng rộng ở các nước Mỹ Latinh (như Braxin, Chilee, Venezuela, Ecuado, Achentina), khu vực Trung Đông và châu Phi như (UAE, Ai Cập,…. ) với dân số đông đúc và thu nhập ở mức trung bình hoặc khá cao.

    Sự đảo chiều của thị trường Trung Quốc

    Gần hơn là Trung Quốc, nước tuy đang đứng đầu thế giới về sản xuất và XK thuỷ sản, song đang chuyển rất nhanh thành một nhà NK lớn. Trước đây, người Trung Quốc chủ yếu ăn thuỷ sản tươi sống, ngành chế biến chỉ tiêu thụ nội địa được gần 20% sản lượng. Họ còn chú trọng gia công, NK nguyên liệu để chế biến tái XK. Năm 2007, giá trị XK thuỷ sản của Trung Quốc là 9,3 tỷ USD, tăng 0,3 tỷ so với năm 2006, thì đồng thời giá trị NK của họ tăng 0,4 tỷ, từ 4,1 lên 4,5 tỷ.

    Bức tranh ngày nay đã hoàn toàn đảo ngược. Sản lượng thuỷ sản chế biến tiêu thụ nội địa tăng nhanh, chế biến tái XK giảm dần do giá nhân công và chi phí cao, sản phẩm Trung Quốc lại bị nhiều tai tiếng về chất lượng và VSATTP. Cách đây vài năm, các DN Việt Nam còn có thể NK tôm chân trắng nuôi ở Trung Quốc để chế biến, còn đến nay thương lái người Hoa sẵn sàng mua tôm nuôi của Việt Nam, bất chấp chất lượng!

    Năm 2009, XK thuỷ sản của Việt Nam sang Trung Quốc tăng 23,7% khối lượng và 28,4% giá trị so với 2008. Trong quý I/2010, mức tăng tương ứng tiếp tục là 17,8% và 24,7%. Đặc biệt, XK tôm năm 2009 và quý I/2010 tăng rất mạnh, về lượng tương ứng 104,9% và 85,6% so với cùng kỳ năm trước, và tương ứng 94,3% và 78,8% về giá trị.

    Ngoài ra, nếu các thủ tục NK được làm cho thông thoáng, các nguồn nguyên liệu vốn được đưa vào Trung Quốc để chế biến gia công hoàn toàn có thể chuyển dòng chảy để các DN Việt Nam tiếp quản.

    Quản lý vĩ mô phù hợp kinh tế thị trường hơn

    Trong thời gian qua, đặc biệt từ sau khi Việt Nam trở thành thành viên WTO, quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước đã đổi thay nhanh chóng, ngày càng phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường. Những chính sách kiềm chế lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền, giảm suy thoái kinh tế và thúc đẩy hồi phục đã giúp Việt Nam trở thành một trong những gương mặt sáng giá của khu vực và trên thế giới, có sức hút cao đối với các nhà đầu tư nước ngoài.

    Về quản lý hành chính, Chính phủ đã hoàn thành giai đoạn 2 thực hiện Đề án 30 của Thủ tướng Chính phủ về cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện giúp DN môi trường hoạt động thông thoáng, đỡ phiền hà hơn, giảm chi phí hơn trước.

    Nói công bằng, Chính phủ và Bộ NN&PTNT đã lắng nghe phản ánh của các DN thuỷ sản nhiều hơn. Các chính sách và giải pháp quản lý được đặt ra linh hoạt hơn, đáp ứng yêu cầu của sản xuất kinh doanh, chẳng hạn hỗ trợ ngư dân khai thác xa bờ và nông dân NTTS, nhanh chóng tham gia làm thành viên của Tổ chức Quản lý Nghề cá Trung Tây Thái Bình Dương, triển khai đăng ký sản phẩm khai thác biển đáp ứng yêu cầu chống sản phẩm khai thác bất hợp pháp của EU, khởi kiện ra WTO về việc Hoa Kỳ áp dụng cách tính thuế chống bán phá giá tôm bất hợp lý đối với Việt Nam, điều chỉnh chính sách thuế NK nguyên liệu thuỷ sản dành cho chế biến, v.v… Các cơ quan chức năng của Bộ NN&PTNT như Cục Thú y, Nafiqad, Cục Chế biến Thương mại Nông Lâm Thuỷ sản và Nghề Muối, … cũng tôn trọng ý kiến DN hơn khi xây dựng và thực hiện các chương trình, chính sách và văn bản quản lý mới.

    Tuy còn nhiều vấn đề phải tiếp tục khắc phục, cải thiện, song sự tiến bộ đã thể hiện rất rõ, giúp DN ngày càng thuận lợi hơn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.

    Lực cản đối với xuất khẩu thuỷ sản

    Nhiều cản trở đối với XK thuỷ sản của Việt Nam đã được chỉ ra, tuy nhiên, bối cảnh khó khăn toàn diện của năm qua là điều kiện để phân loại rõ ràng hơn những vấn đề thuộc bản chất của quá trình tăng trưởng và những vấn đề nảy sinh từ yếu kém, bất cập chủ quan.

    Quan hệ cung cầu

    Thực tiễn sản xuất thuỷ sản Việt Nam có những biểu hiện không hoàn toàn theo quy luật cung-cầu thông thường. Chẳng hạn, một mặt, các DN thiếu nguyên liệu để chế biến, nhưng mặt khác giá mua nguyên liệu thấp, không đủ để kích thích người nuôi tôm, cá tra đẩy mạnh sản xuất, khi mà giá thức ăn và các chi phí khác không ngừng tăng lên. Tuy nhiên, trên thực tế, các DN tự tổ chức sản xuất nguyên liệu hoặc có quan hệ liên kết chặt chẽ về trách nhiệm và chia sẻ quyền lợi với người nuôi không quá khó khăn về phương diện này.

    Nhìn vào biểu đồ 4 và 5, có thể thấy giá trung bình (TB) XK tôm và cá tra qua các năm liên tục giảm. Sự giảm giá tôm XK có một phần do giá nói chung giảm khi nguồn cung tăng lên, thể hiện qua biến động giá giữa các tháng. Nhưng phần lớn hơn là do tỷ lệ tôm chân trắng cỡ nhỏ hơn với giá thấp hơn tăng lên trong tổng sản lượng tôm XK. Đối với cá tra, giá XK vào từng thị trường qua các năm biến động không lớn. Yếu tố chính làm giảm giá TB là lượng hàng giá thấp XK sang một số thị trường mới tăng lên.

    Các DN chế biến từ nguyên liệu khai thác tự nhiên sẽ phải đối mặt với sự thiếu hụt nguyên liệu ngày càng lớn hơn, nếu không có giải pháp thật tích cực theo hướng NK. Hơn nữa, yêu cầu truy xuất nguồn gốc theo cách châu Âu cư xử với sản phẩm (IUU) sẽ lan rộng. Theo chương trình, cuối năm nay EU sẽ đưa ra Kế hoạch tổng thể Ngăn chặn suy giảm đa dạng sinh học, trong đó chắc chắn sẽ quy định khắt khe hơn về khai thác và NTTS.

    Cạnh tranh

    Không phải ngẫu nhiên mà vào khoảng đầu năm 2009 các phương tiện thông tin đại chúng ở nhiều nước đồng thanh bôi nhọ sản phẩm thuỷ sản Việt Nam. Việc này chắc hẳn có người giật dây phía sau. Hãy nhìn sự vật vã của Hiệp hội Nuôi cá nheo (CFA) hay Liên minh Tôm miền Nam (SSA) nước Mỹ đối phó với sản phẩm tôm, cá tra NK, sẽ dễ hình dung ra ai là người phản ứng ở các nước khác. Không phải là không có khả năng khởi kiện bán phá giá từ những người nuôi cá hồi hay cá vược sông Nin.

    Nhưng ngay cả giữa các DN Việt Nam cũng cạnh tranh với nhau không kém phần sôi nổi. Gần đây, có một số ý kiến cho rằng các DN nhỏ, đặc biệt là các DN thương mại là nhân tố chủ chốt cạnh tranh bán phá giá sản phẩm, gây thiệt hại chung. Tuy nhiên, theo số liệu thống kê, việc quy kết “cả gói” như vậy là không thật công bằng. Có một số DN bán với yếu tố phá giá như vậy thật, nhưng cũng có nhiều DN thương mại bán khối lượng không nhỏ sản phẩm với giá TB không hề thấp, thậm chí có trường hợp thuộc loại cao.

    Sự chênh lệch lớn về giá bán gặp chủ yếu ở những thị trường mới, chưa có sự áp đảo của các DN lớn. Chẳng hạn, ở thị trường Mỹ, nơi 6 DN (20% trong tổng số 31 DN XK vào thị trường này năm 2009) có doanh số XK lớn nhất, chiếm tới 92% thị phần, tình trạng chênh lệch giá bán hầu như không đáng kể (giá TB số học 3220,63 USD/tấn, giá TB gia quyền 3249,14 USD/tấn). Trong khi đó, tại Ai Cập, nơi 12 DN đứng đầu (trong số 60 DN) chỉ chiếm 72% thị phần, sự chênh lệch giá bán thể hiện rất rõ rệt (giá TB tương ứng bằng 1675,18 USD/tấn và 1728,85USD/tấn).

    Về tôm, tháng 8/2009, VASEP và Bộ NN&PTNT đã phối hợp phát động phong trào “nói không với tôm bơm tạp chất” ở khu vực ĐBSCL, với sự hưởng ứng tích cực của 49 DN. Tuy nhiên, theo phản ánh của nhiều DN, sau một thời gian phong trào đã xẹp dần và hầu như không được nhắc đến nữa. Từng DN lại phải tự lo cho mình.

    Kinh tế chưa ổn định

    Kinh tế thế giới và trong nước đã qua đáy suy thoái và đang hồi phục với tốc độ khác nhau ở các khu vực. Tuy nhiên, cũng giống như con đường trải nhựa qua một cơn lũ lụt, những ổ gà, hang hốc trước đây chưa bị phát hiện, nay sẵn sàng bùng nổ ở bất cứ đâu.

    Trong thế giới phẳng ngày nay, khủng hoảng là không biên giới. Nguy cơ vỡ nợ của tập đoàn Dubai World ở UAE đe doạ không chỉ hệ thống ngân hàng mà cả nhiều định chế tài chính thế giới vào cuối năm 2009 chưa qua, thì đã đến sự xuất hiện của Hy Lạp với khoản nợ Chính phủ khổng lồ, làm rúng động cả khu vực đồng tiền chung châu Âu và thậm chí lan sang tận Trung Quốc, Ôxtrâylia,... Hiện nay, các nhà đầu tư trên thế giới đang lo nguy cơ nợ chính phủ lây lan sang cả Thổ Nhĩ Kỳ, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và khắp vùng Nam Âu.
    Trong khi các báo cáo mới đây về việc làm, thu nhập, chỉ số niềm tin người tiêu dùng ở Mỹ được cải thiện nhiều, thì thông tin tương tự ở châu Âu lại không mấy sáng sủa. Hoạt động của hệ thống ngân hàng vẫn ở trạng thái bấp bênh. Bên cạnh đó, tình hình chính trị – xã hội luôn xuất hiện những biến động và mối đe doạ mới. Và chắc chắn còn nhiều điều chưa ai dự báo được.

    Dư âm của khủng hoảng trong nước

    Trong nước, mặc dù cho đến hết tháng 4 năm nay, mọi việc có vẻ ngày càng tốt hơn, GDP cả năm được nâng mức dự báo tăng trưởng lên 6,5%, lạm phát tháng 4 chỉ còn 0,14%, v.v… nhưng rõ ràng trong hoạt động của các DN vẫn còn tiềm ẩn nhiều bất trắc. Nam, cũng là sản phẩm chịu nhiều sóng gió nhất. Ngay cả chỉ một lượng sản phẩm rất nhỏ, đến mức không có ý nghĩa về mặt thống kê, do một vài DN làm ăn kiểu chụp giật bán ra thị trường, cũng đã trở thành cớ để hàng loạt phương tiện thông tin đại chúng ở Italia, Tây Ban Nha, Ai Cập dựng chuyện bôi nhọ chất lượng con cá Việt Nam. Điều đó đủ thấy, con cá tra không chỉ là niềm tự hào của người Việt Nam, mà còn là cái đích xoi mói của không ít đối thủ trên thế giới.

    Một vấn đề nữa, đó là sự nghèo nàn về chủng loại sản phẩm. Có thể nói, tới 95% cá tra đang được bán dưới vài ba dạng phi lê đông lạnh, chỉ khác nhau về mức độ xử lý, thực chất vẫn là sản phẩm dạng nguyên liệu.

    Điểm đáng phấn khởi là báo cáo kết quả hoạt động sản xuất – kinh doanh của hầu hết DN thuỷ sản đều tốt hoặc khá tốt so với cùng kỳ năm ngoái. Nhưng cũng có những đơn vị vẫn lỗ hoặc lợi nhuận của lĩnh vực sản xuất chính giảm mạnh.

    Lãi suất ngân hàng tuy đã hạ nhiệt, song vẫn còn rất cao so với khả năng sinh lợi của DN. Trong khi đó nguồn hỗ trợ tín dụng của nhà nước không còn. Một số đơn vị đã đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng trong giai đoạn tín dụng cao trước đây, nay gặp nhiều khó khăn khi nợ đáo hạn.

    Đó là chưa kể những khó khăn gián tiếp đối với các DN chế biến thuỷ sản XK do hậu quả của thời kỳ trước để lại, hoặc do những hội chứng đã thành căn bệnh cố hữu ở Việt Nam, như thiếu điện hay giá xăng dầu, giá điện đã lên là không có xuống.

    Bất cập trong sản xuất – tiêu thụ cá tra

    Sản xuất và tiêu thụ cá tra là lĩnh vực đang có nhiều vấn đề nhất. Những nhóm sản phẩm khác như tôm, cá biển, hải sản, v.v… tuy cũng có những vấn đề riêng, song không nhiều nổi cộm bằng. Đó là vì cá tra là sản phẩm tương đối mới, nhiều khách hàng mới và cũng thu hút sự tham gia của nhiều gương mặt mới trong ngành. Cho rằng “làm cá tra dễ” nên nhiều người tham gia, từ nuôi cá cho đến chế biến, XK, kể cả những người chưa có nhiều hiểu biết về sản xuất và kinh doanh thuỷ sản.

    Chính vì thế, cá tra – sản phẩm độc đáo và độc quyền của Việt ở các thị trường tiêu thụ, nhiều nhà chế biến đã làm ra những sản phẩm giá trị gia tăng và bán với giá cao hơn gấp 3-4 lần. Như vậy, chỉ một phần rất nhỏ lợi nhuận từ loại sản phẩm quý báu này về tay những người sản xuất, kinh doanh trong nước, còn phần lớn lợi nhuận rơi vào tay khách hàng của họ. Nhiều DN Việt Nam đã nhận thấy điều đó và cố gắng nâng cao chất lượng, bảo đảm VSATTP cho sản phẩm, và tìm cách đa dạng hóa, nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm, nhưng người sản xuất và DN Việt Nam còn cần làm nhiều hơn nữa để giành lấy tỷ suất cao hơn trong sự phân phối lợi ích này.

    Kết luận

    Nói tóm lại, nhìn tổng thể và lâu dài, XK thuỷ sản có triển vọng hết sức sáng sủa, nhưng DN Việt Nam cũng còn nhiều điều phải tiếp tục làm tốt hơn để bảo đảm phát triển bền vững, đem lại quyền lợi lớn hơn cho người sản xuất – kinh doanh trong nước, đồng thời đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng trong nước và thế giới.

    Điều quan trọng và bức thiết nhất hiện nay, là phải tạo sự đồng lòng của người sản xuất và cộng đồng DN thủy sản Việt Nam, không tìm cách cạnh tranh nội bộ, mà phải tập trung sức cạnh tranh với bên ngoài, cùng gánh vác khó khăn, chia sẻ hợp lý lợi ích, vì quyền lợi chung của đất nước và quyền lợi của từng người sản xuất, từng DN.

    Thái Thanh Dương
    Ý KIẾN BẠN ĐỌC VỀ CHỦ ĐỀ NÀY
    nguyển thành trì
    26/06/2010 10:11 (GMT+7)
    Nhà nước việt nam cần phải có những biện pháp thật nghiêm khắc đối với những trường hợp đánh bắt hải sản một cách tận diệt của những ngư dân xấu.
    Cần có những hổ trợ hợp lý về tài chính cho những doanh nghiệp để doanh nghiệp có thể mở rộng qui mô chế biến hải sản
    đầu tư vào lĩnh vực giáo dục thủy sản hơn nửa bồi dưỡng những cán bộ có trính độ cao huấn luyện cho ngư dân
    Ý KIẾN BẠN ĐỌC
    Telex   VNI  
    Name:
    *
    Address:
    Phone:
    Email:
    *
    Content:
    *