Trao đổi ý kiến về vấn đề này với phóng viên Tạp chí TMTS, TS. Nguyễn Văn Hảo, Viện trưởng Viện nghiên cứu NTTS 2 (RIA 2) cho biêt, Viện đã sản xuất th ành công giống cá tăng trưởng nhanh , đang nghiên cứu chọn giống có khả năng kháng bệnh , sản xuất vacxin và xây dựng hệ thống xử lý chất thải.
PV. ông đánh giá thế nào về tính bền vững của sản xuất cá tra hiện nay?
TS. Nguyễn Văn Hảo. Như đã biết, chỉ với diện tích nuôi khoảng 6.500 ha (trên tổng số hơn 4 triệu ha đất của cả vùng ĐBSCL) đã sản xuất được hơn 1 triệu tấn cá tra. Do vậy, có thể nói rằng không có gì khó khăn để đạt sản lượng 2 triệu tấn. Vấn đề là cá tra khác với tôm ở chỗ nhu cầu tiêu dùng tôm cao hơn khả năng cung cấp của nghề nuôi, thành ra thị trường tôm nhìn chung khá ổn định. Còn cá tra sản lượng mới đến 1 triệu tấn việc tiêu thụ đã có vấn đề. Do vậy, phải thay đổi cách tiếp cận sản xuất cá tra.
EU đã khuyến cáo, nếu đến năm 2011 những người nuôi cá tra Việt Nam không được cấp chứng nhận về quá trình sản xuất thì không thể bán vào thị trường châu Âu được...
PV. Tức là phải áp dụng những hệ thống quản lý như GAP, EuGAP, GlobalGAP hay PAD/ACC?
TS. Nguyễn Văn Hảo. Đúng vậy. Và chúng phải được một bên thứ 3 chứng nhận.
Tôi thấy các DN chế biến đã tận dụng tốt phụ phẩm từ cá tra, thí dụ bong bóng hay bao tử cá tra được chế biến để bán cho nhà hàng, máu cá làm thành thức ăn chăn nuôi, mỡ cá thành dầu bio-diesel, da cá có thể chế biến thành collagen. Nhà nước đã giao cho chúng tôi đề tài nghiên cứu chế biến collagen từ da cá tra. Nếu phát triển và ứng dụng thành công công nghệ tách chiết này thì có thể nói chúng ta đã sử dụng con cá tra một cách toàn diện để làm thực phẩm, mỹ phẩm, dược phẩm cho đến thức ăn chăn nuôi.
Từ đó đặt ra 2 vấn đề: thứ nhất, làm thế nào để nâng cao chất lượng cá tra; và thứ hai, tổ chức lại sản xuất như thế nào để các thành phần khác nhau trong chuỗi sản xuất cá tra hợp tác với nhau và minh bạch hóa quá trình hợp tác này. Những điều này chúng ta chưa làm được tốt.
PV. Đó là khía cạnh thương mại, vậy dưới cái nhìn của nhà khoa học, những vấn đề liên quan đến sản xuất giống, kỹ thuật nuôi, bảo vệ môi trường...TS. Nguyễn Văn Hảo. Mười năm vừa qua, RIA 2 đã tiến hành một chương trình chọn giống cá tra. Chúng tôi đã thiết lập quan hệ hợp tác chặt chẽ với AFGC - một công ty hàng đầu thế giới của Na Uy về chọn giống thủy sản - để được tư vấn về vấn đề này. Chúng tôi rất vững tâm trong từng bước đi của mình.
Với chương trình phát triển giống thủy sản của Bộ NN&PTNT, tin rằng, trong 3 năm tới, mỗi năm chúng ta có thể sản xuất trên 30.000 con cá hậu bị để thay thế dần đàn cá bố mẹ đang nuôi hiện nay. Những con cá này đều có hồ sơ truy xuất nguồn gốc. Đó là cách tiếp cận mà chúng tôi đã đi tiên phong và đã được nhà nước công nhận.
Bên cạnh việc chọn giống theo tính trạng tăng trưởng, chúng tôi đã bắt đầu chọn giống theo tính trạng kháng bệnh và sẽ làm chọn giống thích nghi với độ mặn cao cho tình huống xảy ra biến đổi khí hậu. Dự báo, trong tương lai, ĐBSCL sẽ bị xâm nhập mặn, nước biển dâng, nước mặn sẽ tiến sâu hơn vào nội đồng. Do vậy, vấn đề đặt ra là phải chọn được giống cá tra thích nghi với sự biến đổi môi trường này.
Đó là 2 nhiệm vụ đặt ra cho chúng tôi trong thời gian tới và là những việc chúng tôi có khả năng thực hiện.
Hiện nay Bộ NN&PTNT về cơ bản đã đồng ý tài trợ bổ sung cho RIAZ một chương trình nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật sinh học phân tử trong chọn giống cá tra.
PV. Vậy, những chương trình nghiên cứu này bao giờ có thể đưa ra kết quả để áp dụng vào thực tiễn, ví dụ như chọn giống cá tra có khả năng kháng bệnh?
TS. Nguyễn Văn Hảo. Chúng tôi phải nghiên cứu đánh giá các thông số về tính trạng di truyền. Tôi nghĩ năm 2011 chúng tôi có thể trả lời câu hỏi liệu có thể tiến hành chương trình chọn giống cá tra kháng bệnh được hay không.
Còn về tính trạng thích nghi với biến đổi khí hậu thì đây mới chỉ là ý tưởng, chúng tôi phải làm việc với Bộ NN&PTNT và phải được cấp kinh phí để tiến hành nghiên cứu đánh giá,...
PV. Xin lỗi cắt lời ông. Hiện nay, người ta nói nhiều đến công nghệ biến đổi gen (GMO). Liệu có nên ứng dụng GMO cho cá tra?
TS. Nguyễn Văn Hảo. Những gì chúng tôi đang làm hoàn toàn không liên quan đến GMO. Vì GMO là những sinh vật được biến đổi gen bằng công nghệ sinh học, còn chúng tôi ứng dụng công nghệ truyền thống nên rất an toàn về thực phẩm.
Chúng tôi chỉ ứng dụng công nghệ gen để tìm ra những marker (đoạn đánh dấu trong ADN) để thúc đẩy quá trình chọn giống nhanh hơn thôi, chứ không chuyển hay ghép gen hoặc tạo ra đa bội thể,... làm biến đổi bản chất di truyền của đối tượng. Thành ra, cách tiếp cận của chúng tôi hoàn toàn an toàn về thực phẩm và không thể bị nhà NK cho rằng đó là sản phẩm GMO.
PV. Từ lâu RIA 2 đã thành công trong chọn giống cá tra tăng trưởng cao và cung cấp cho các trại giống, nhưng người dân vẫn sử dụng loại giống chất lượng thấp,...
TS. Nguyễn Văn Hảo. Đây là chương trình cấp bộ bắt đầu từ năm 2010. Thật ra, trước khi có chương trình này chúng tôi đã phát tán đàn cá bố mẹ đến một số trại sản xuất giống. Chỉ có điều, số lượng cá bố mẹ chúng tôi cung cấp chưa nhiều, trong khi nhu cầu thực tế rất lớn, thành ra có sự lạm dụng thương hiệu cá tra của RIA 2, nghĩa là họ chỉ có vài trăm con cá bố mẹ do chúng tôi cung cấp nhưng có hàng nghìn con cá của riêng họ và họ cũng bảo rằng, đó là từ cá giống của RIA 2.
Tuy nhiên, tôi hy vọng, với chương trình 100.000 con cá bố mẹ, đồng thời có những biện pháp chế tài để quản lý sản xuất giống, chúng ta sẽ tháo gỡ được khó khăn này. Điều quan trọng là vấn đề đã được nhận ra, và quan trọng hơn là chúng ta đã có vật liệu tốt trong tay. Cái còn lại là đưa vật liệu tốt nào vào thực tiễn sản xuất như thế nào. Đó sẽ là nhiệm vụ của quản lý nhà nước và nhà khoa học.
PV. Ông đã nói, ĐBSCL có thể tăng sản lượng cá tra lên 2 triệu tấn/năm. Vậy, liệu môi trường có đủ sức chịu đựng lượng khổng lồ chất thải từ sản xuất cá tra?
TS. Nguyễn Văn Hảo. Tôi đã đi nhiều tỉnh ở ĐBSCL và thấy người nông dân rất sáng tạo. Họ đã chế tạo ra những chiếc máy để định kỳ hút bùn trong ao vì với sinh khối 300 tấn cá/ha/vụ thì lượng chất thải rắn rất lớn. Bùn được bơm vào một nơi để khô đi rồi bán làm phân bón. Đây là cách làm rất đời thường, thay vì bơm thẳng ra sông thì họ biết thu gom chúng lại để bán lấy tiền, không gây ảnh hưởng môi trường. Những người sử dụng loại phân bón này cho biết chất lượng rất tốt.
Chúng tôi có một chương trình hợp tác với Đại học Wageningen của Hà Lan để thiết kế hệ thống lọc tuần hoàn sinh học trong ao nuôi cá tra. Như vậy, sẽ không phải thay nước trực tiếp nữa. Chương trình sẽ được nghiên cứu trong 3 năm với kinh phí từ Bộ NN&PTNT. Tôi tin rằng, trong vài năm tới sẽ có mô hình nuôi cá tra khác với những mô hình nuôi hiện nay.
PV. 3 năm có vẻ quá chậm so với yêu cầu thực tiễn,...
TS. Nguyễn Văn Hảo. Chúng ta không thể đốt cháy giai đoạn, vì để nghiên cứu vấn đề này trước tiên phải điều tra, thu thập mẫu nước thải từ nhiều nơi và trong cả chu kỳ sản xuất để hiểu rõ bản chất của nó.
Chúng ta nói sản xuất cá tra gây ô nhiễm môi trường, nhưng nào có ai hiểu bản chất bùn trong ao nuôi cá tra như thế nào. Chúng tôi phải mất 1 năm làm việc đó và sau đó thiết kế hệ thống và mô hình hóa nó trong nhà, vận hành thử hệ thống. Và sau khi điều chỉnh các thông số, hệ thống đó phải bảo đảm chất lượng nước và chất thải rắn tương thích với tiêu chuẩn. Tiếp theo, chúng tôi sẽ làm một mô hình thực nghiệm, tiếp tục điều chỉnh các thông số và đánh giá hoạt động của hệ thống đến khi đạt yêu cầu rồi mới đưa ra thực tiễn. Thành ra, tôi thấy 3 năm là nhanh chứ không phải quá lâu.
PV. RIA 2 được giao nhiệm vụ quan trắc môi trường vùng nuôi cá tra ở ĐBSCL. Xin ông cho biết, chất lượng nước hiện nay thế nào? Có phải như người ta nói là rất xấu hay không?
TS. Nguyễn Văn Hảo. Chúng tôi có tất cả 34 trạm thu mẫu nước ở khắp vùng ĐBSCL. Hiện nay, qua đánh giá chúng tôi thấy rằng, chất lượng nước của ĐBSCL về cơ bản vẫn ổn định, chỉ trong những điều kiện thời tiết nhất định thì có một vài biểu hiện ô nhiễm cục bộ.
Tôi muốn nói rằng, nuôi cá tra cũng góp phần làm ô nhiễm nước ở ĐBSCL nhưng so với trồng lúa thì không thấm vào đâu. Tuy nhiên, không phải vì thế mà chúng ta tiếp tục dùng công nghệ quá đơn giản này, mà phải áp dụng những công nghệ tiến tiến để xử lý môi trường, nhưng đồng thời phải làm sao hạ giá thành để người dân chấp nhận, đồng thời bảo vệ môi trường và cung cấp sản phẩm sạch.
PV. Tôi thấy, có nơi nuôi đạt năng suất 200-300 tấn/ha/vụ nhưng có nơi đạt tới 700 tấn/ha/vụ. Điều đó nghĩa là mật độ nuôi, cách cho ăn, kỹ thuật nuôi, xử lý môi trường rất khác nhau. Có nên đưa ra quy định bắt buộc về mật độ thả nuôi hay phải có hệ thống xử lý nước?
TS. Nguyễn Văn Hảo. Vẫn có thể nâng năng suất nuôi từ 200-300 tấn lên 700 tấn, nhưng như tôi đã nói, công nghệ nuôi vẫn rất đơn giản, vì người ta chỉ tăng năng suất và sản lượng bằng cách đào ao sâu hơn để có nhiều nước hơn hoặc tăng mật độ nuôi. Nếu tăng mật độ nuôi thì rất dễ dẫn đến xảy ra dịch bệnh, còn nếu đào ao sâu hơn thì sẽ phá hủy hệ sinh thái ao. Nếu không thay đổi công nghệ nuôi thì hậu quả của nó sẽ là dịch bệnh.
Ngay cả cải tiến công nghệ để nuôi bền vững ở mức năng suất 200-300 tấn mà mình còn chưa làm được, huống chi là đưa năng suất lên tới 700 tấn! Do vậy, khuyến cáo về mặt khoa học là, càng tăng đại trà năng suất nuôi lên càng cao, rủi ro sẽ càng lớn đối với ngành nuôi cá tra của ĐBSCL. Hiện tại chỉ nên duy trì ở mức năng suất 200-300 tấn thôi, không nên vì lợi nhuận trước mắt mà bằng mọi cách tăng năng suất lên quá cao.
Một số nông dân nuôi cá tra ở An Giang cho tôi biết, sẽ thả nuôi với mật độ thưa hơn, vì riêng để nuôi đạt năng suất 200 tấn/ha đã phải đầu tư 4 tỷ đồng/ha mà rủi ro vẫn quá cao.
Hiện nay giá bán cá xuống quá thấp, 15.500 đồng/kg, trong khi giá thành là 17.000 đồng/kg. Các anh ngành nông nghiệp và người nuôi cá An Giang cho rằng, vai trò của VASEP còn hạn chế. Hiệp hội là tập hợp những người XK con cá này nhưng mình không đoàn kết được với nhau mà để xảy ra tình trạng ai muốn bán thế nào, với giá nào cũng được…
PV. Xin hỏi ông câu cuối cùng. Được biết RIA 2 hợp tác với một công ty sản xuất vacxin phòng bệnh cho cá tra từ 2 năm nay. Bao giờ có thể thương mại hóa được sản phẩm?
TS. Nguyễn Văn Hảo. Về bản chất, Edwardsiella ictaluri (vi khuẩn gây bệnh đốm trắng trên gan, thận và lách cá tra) là vi khuẩn ký sinh nội bào. Loại vacxin mà Công ty Pharmaq AS của Na Uy cũng như RIA 2 kết hợp với Công ty Thuốc thú y Trung ương (NAVETCO) đã làm là loại vacxin chết nên hiệu quả không cao. Do đó, phải có cách tiếp cận mới, tức là cần có loại vacxin cao cấp hơn - vacxin sống (nhược độc) hoặc vacxin ADN.
Đây là công trình nghiên cứu tương đối phức tạp và cần có những nghiên cứu dài hơi. Vấn đề đặt ra là giá cá tra hiện tại quá thấp. Do vậy, việc phải bỏ thêm chi phí sản xuất sẽ là gánh nặng đối với người nuôi.
Tuy vậy, tôi cho rằng, với sự tài trợ của Bộ NN&PTNT, hợp tác với các tổ chức quốc tế, trong tương lai không xa chúng ta sẽ không chỉ có vacxin cho cá tra mà còn cho nhiều loài thủy sản nuôi khác nữa, như cá rô phi, cá chép,...
Các nhà khoa học cần sự nghiêm túc, kiên nhẫn và thời gian, mặc dầu biết rằng sản xuất đang rất cần mình. Các bạn hãy thông cảm, vì khoa học không thể vội vàng được.
PV. Xin cảm ơn ông.
Nguyên Khải thực hiện